Quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân

Quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân : Trong thời kỳ hôn nhân, nếu quyền sử dụng đất được hình thành thì quyền sử dụng đất đó là tài sản chung ...

Quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân

Câu hỏi của khách hàng:

       Vợ chồng tôi có 2 con chung : 23 và 16 tuổi. chúng tôi có 2 mảnh đất đều chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà trên đất là nhà tạm. Chồng tôi ngoại tình đã hơn chục năm nay, nên đi làm không đem tiền về cho tôi nuôi con thời gian gần đây thường xuyên gây bạo lực với mẹ con tôi.Vậy nếu tôi đơn phương ly hôn, 2 mảnh đất đó tôi muốn để lại cho mỗi đứa con một miếng còn 2 vợ chồng ra đi tay không. Nhưng chồng tôi không chịu. anh ta muốn lấy đất. vậy tôi phải làm thế nào để giữ tài sản cho các con tôi. Xin luật sư giúp đỡ. Xin chân thành cảm ơn.

Câu trả lời của luật sư :

       Chào bạn!

       Trước tiên, xin trân trọng cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến phòng tư vấn pháp luật qua email – Luật Toàn Quốc. Chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau :

Căn cứ pháp lý :

Nội dung tư vấn :

1. Quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân

        Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về Tài sản chung của vợ chồng như sau :

“Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

       Theo quy định trên, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Trường hợp của bạn, theo những thông tin bạn cung cấp vợ chồng bạn có hai mảnh đất đều chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà trên hai mảnh đất là nhà tạm điều đó cho thấy rằng quyền sử dụng đất được có trong thời kỳ hôn nhân và nó là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của hai anh chị.

     Việc chưa có giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ không ảnh hưởng nhiều tới vụ việc vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là chứng từ có giá trị pháp lý xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất về quyền hạn và nghĩa vụ trong việc sử dụng đất đai. Bạn có thể căn cứ vào hợp đồng mua bán nhà đất được xác lập trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, nếu bạn có căn cứ minh được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc giao dịch bằng tài sản riêng để có quyền sử dụng đất đó mà không liên quan gì tới chồng thì tài sản đó sẽ được coi là tài sản riêng và việc chứng minh nó là tài sản riêng là nghĩa vụ của bạn. Nếu bạn không chứng minh được nó là tài sản riêng thì tài sản đó sẽ được tính là tài sản chung mà ở đây là quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, với những gì chị cung cấp thì nhiều khả năng quyền sử dụng đất trong trường hợp của chị sẽ được tính là tài sản chung vì đó là quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân.

2. Phân chia quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân

       Để quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân được chuyển qua cho hai người con thì phải được sự đồng thuận từ cả hai vợ chồng trừ trường hợp quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của bạn. Còn trong trường hợp này quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân sẽ phải phân chia cho vợ chồng rồi sau đó quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân đó thuộc quyền sở hữu của ai thì người đó có quyền chuyển giao cho người khác.

      Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau :

“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”

        Áp dụng vào trường hợp của bạn, tài sản riêng sẽ không là đối tượng giải quyết tranh chấp mà chỉ có tài sản chung được phân chia. Về quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bạn có thể tự thỏa thuận phân chia hoặc nếu không dẫn tới thỏa thuận thì Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp. Theo quy định của pháp luật, Quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân sẽ chia đôi nhưng Tòa án sẽ căn cứ những điều kiện sau để đưa ra phán quyết hợp lý : Hoàn cảnh gia đình của các bên, lỗi của các bên, đóng góp của các bên…

     Qua đó, trước Tòa án bạn có thể đưa ra những căn cứ như chồng có hành vi bạo lực gia đình, chồng ngoại tình hơn mười năm, chồng không có sự đóng góp vào tài sản chung, chồng không nuôi dưỡng hai con, … để làm căn cứ giành lại quyền lợi cho mình. Do quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân là bất động sản (hiện vật) nên nó sẽ được chia theo giá trị, bên nào dành được lượng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mà mình được chia thì phải thanh toán cho bên còn lại phần giá trị tương xứng. Ngoài ra, Pháp luật sẽ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Sau khi giải quyết xong vụ việc phân chia quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân, quyền sử dụng đất đó mới có thể chuyển sang cho các con.

       Luật Toàn Quốc hy vọng những gì chúng tôi tư vấn nêu trên sẽ giúp cho quý khách có lựa chọn được phương án thích hợp nhất để giải quyết vấn đề Quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân. Còn bất cứ vướng mắc gì quý khách vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn luật hôn nhân miễn phí 24/7: 1900 6500  để gặp Luật sư tư vấn trực tiếp và yêu cầu cung cấp dịch vụ hoặc gửi thư về Email: lienhe@luattoanquoc.com.

     Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của quý khách. 

     Trân trọng /./.               

Liên kết tham khảo: