Ly hôn khi một bên ngoại tình theo quy định

Ly hôn khi một bên ngoại tình theo quy định pháp luật cần phải có Chứng cứ chứng minh việc ngoại tình, tin nhắn và phải được thu thập..

LY HÔN KHI MỘT BÊN NGOẠI TÌNH

Câu hỏi của bạn về ly hôn khi một bên ngoại tình 

     Luật sư cho tôi hỏi. Vợ chồng tôi kết hôn được 10 năm. Do gần đây phát sinh mâu thuẫn và trong thời gian này tôi có phát sinh tình cảm với người khác, vợ phát hiện tin nhắn và chụp hình ảnh chúng tôi vào nhà nghỉ nhưng không phải trong phòng và lúc quan hệ. Nay tôi muốn ly hôn nhưng vợ yêu cầu phải ghi rõ họ tên, địa chỉ cư trú và nghề nghiệp của người đó. Vậy tôi phải ghi như thế nào. Xin cảm ơn.

Câu trả lời của Luật sư về ly hôn khi một bên ngoại tình

     Chào bạn, Luật Toàn Quốc cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về ly hôn khi một bên ngoại tình, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn về ly hôn khi một bên ngoại tình như sau:

1. Căn cứ pháp luật về ly hôn khi một bên ngoại tình

2. Nội dung tư vấn về ly hôn khi một bên ngoại tình

Theo quy định pháp luật  Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Và; Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ. Đồng thời, chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

2.1. Chứng cứ chứng minh việc ngoại tình

     Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự quy định:

   

 

“Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.”

     Nguồn chứng cứ quy định tại điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự bao gồm:

  • Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử.
  • Vật chứng.
  • Lời khai của đương sự.
  • Lời khai của người làm chứng.
  • Kết luận giám định.
  • Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ.
  • Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản.
  • Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập.
  • Văn bản công chứng, chứng thực.
  • Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.

     Tin nhắn ngoại tình thuộc loại tài liệu nhìn được vì vậy theo quy định của khoản 1 điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự, để được coi là chứng cứ, tài liệu đó phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận. Tuy vợ bạn chụp bạn và nhân tình cùng vào nhà nghỉ nhưng không phải trong lúc đang quan hệ nên khó có thể trở thành chứng cứ chứng minh việc ngoại tình.

Ly hôn khi một bên ngoại tình

Ly hôn khi một bên ngoại tình

2.2. Ly hôn khi một bên ngoại tình

     Hiện nay, pháp luật không có quy định về việc bắt buộc phải ghi rõ thông tin của nhân tình vào đơn xin ly hôn trong trường hợp ly hôn của bạn. Điều đó có nghĩa là bạn không buộc phải ghi rõ họ tên, địa chỉ cư trú và nghề nghiệp của người đó như theo yêu cầu của vợ bạn.

     Nếu sau khi xác minh mà những chứng cứ vợ bạn đưa ra là hợp pháp thì sẽ dẫn đến những hậu quả bất lợi về quyền tài sản cũng như quyền nuôi con cho bạn do việc có quan hệ tình cảm với người thứ ba của bạn đã vi phạm nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng dẫn đến hôn nhân đổ vỡ. Để thuận lợi cho việc ly hôn và đảm bảo lợi ích tối đa của mình, bạn nên cố gắng thỏa thuận với vợ về việc thuận tình ly hôn.

2.3. Ly hôn đơn phương hay ly hôn thuận tình

Với câu hỏi của bạn, để ly hôn, cả hai có thể lựa chọn phương thức ly hôn đơn phương hoặc ly hôn thuận tình. Nếu cả hai đều đồng thuận ly hôn thì trình tự, thủ tục và các vấn đề khác có thể được giải quyết nhanh, gọn hơn, tiết kiệm chi phí, công sức và thời gian cho cả hai. 

Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Ly hôn theo yêu cầu của một bên (Ly hôn đơn phương)

  • Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
  • Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
  • Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Trong trường hợp ly hôn, các bên giải quyết phân chia tài sản chung dựa theo nguyên tắc luật định như sau:

  • Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

  • Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

+ Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

+ Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

+ Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

+ Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

  • Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
  • Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

  • Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
  • Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

     Kết luận: Các bên có thể lựa chọn hình thức ly hôn là thuận tình hoặc đơn phương. Tuy nhiên, cần lưu ý khi ly hôn đơn phương với lý do một bên ngoại tình thì cần phải có căn cứ, chứng cứ chứng minh cho việc ngoại tình đó, và phải được Tòa án chấp nhận.

     Một số bài viết tham khảo

     Để được tư vấn chi tiết về ly hôn khi một bên ngoại tình, quý khách vui lòng liên hệ tới  Tổng đài tư vấn pháp luật hôn nhân 19006500 để được tư vấn chi tiết hoặc gửi câu hỏi về  Email:lienhe@luattoanquoc.com . Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

      Luật Toàn Quốc  xin chân thành cảm ơn.