Các trường hợp chung sống như vợ chồng theo quy định của pháp luật

CÁC TRƯỜNG HỢP CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG Kiến thức của bạn:       Các trường hợp chung sống như vợ chồng Kiến thức của Luật sư: Cơ sở pháp lý: Luật Hôn nhân và gia đình 2014  Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định về hướng dẫn thi hành một số quy định của […]

CÁC TRƯỜNG HỢP CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG

Kiến thức của bạn: 

     Các trường hợp chung sống như vợ chồng

Kiến thức của Luật sư:

Cơ sở pháp lý:

  • Luật Hôn nhân và gia đình 2014
  •  Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014

 Nội dung kiến thức về các trường hợp chung sống như vợ chồng:

 1. Khái niệm chung sống như vợ chồng

     Khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.

Các trường hợp chung sống như vợ chồng

Các trường hợp chung sống như vợ chồng

2. Đặc điểm chung sống như vợ chồng

     Hai bên nam, nữ không bị ràng buộc về mặt pháp luật.

     Chủ thể của quan hệ chung sống như vợ chồng khá đa dạng.

     Chủ thể tham gia chung sống như vợ chồng nhằm mục đích khác nhau

3. Các trường hợp chung sống như vợ chồng

     Trường hợp 1: Chung sống như vợ chồng không trái pháp luật là việc nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn mặc dù có đủ điều kiện về độ tuổi, ý chí và không thuộc những trường hợp pháp luật cấm. Họ có đủ điều kiện kết hôn nhưng chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì nam, nữ  kết hôn với nhau phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện được quy định tại Luật này. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các bên có đủ điều kiện kết hôn nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn. Trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng, hai bên không hề vi phạm những điều kiện về kết hôn theo quy định của pháp luật.

     Chính vì vậy, hành vi chung sống như vợ chồng của hai bên hoàn toàn không vi phạm pháp luật. Xét về mặt hình thức, trong trường hợp này giữa hai bên nam nữ không hề có chứng cứ pháp lý thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa họ, cụ thể giữa họ không có Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn cấp. Đây là một đặc điểm cơ bản để phân biệt với trường hợp nam nữ không đủ điều kiện kết hôn nên không thể đăng ký kết hôn hay trường hợp kết hôn trái pháp luật (các bên có đăng ký kết hôn nhưng lại vi phạm điều kiện kết hôn). Trong thời gian chung sống như vợ chồng, hai người thực sự coi nhau là vợ chồng. Đây là đặc điểm để phân biệt với trường hợp “chung sống tạm bợ”.

     Tuy nhiên, để đánh giá việc “thực sự coi nhau là vợ chồng” là một việc không hề dễ dàng, vì còn phải phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Ngoài việc phải căn cứ vào lời khai của mỗi người thì còn phải xem xét tình cảm, thái độ, cách cư xử của họ với nhau và hậu quả trong thời gian chung sống để đánh giá và quyết định. Khi bắt đầu chung sống, hai người muốn chung sống lâu dài và ổn định. Đây là đặc điểm để phân biệt với khái niệm “hôn nhân thử nghiệm” mà những năm gần đây được nhắc tới thường xuyên. Với “hôn nhân thử nghiệm”, sau một thời gian chung sống, các bên thấy phù hợp thì sẽ tiến hành đăng ký kết hôn, nếu không hợp thì “đường ai nấy đi”. Còn chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn thì ngay từ khi bắt đầu chung sống họ đã có ý định gắn bó lâu dài với nhau, xuất phát từ mong muốn xây dựng một cuộc sống gia đình ấm no hạnh phúc.

     Trường hợp 2: Chung sống như vợ chồng trái pháp luật là việc nam, nữ chung sống với nhau nhưng không tiến hành đăng ký kết hôn, đồng thời việc chung sống này vi phạm các quy định cấm của pháp luật. Bao gồm các trường hợp sau: Chung sống như vợ chồng khi một bên hoặc cả hai bên không đủ tuổi kết hôn. Chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ. Chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

     Trường hợp 3: Chung sống như vợ chồng được pháp luật thừa nhận. Đây là trường hợp chung sống như vợ chồng từ trước 3/1/1987 và đang chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết.” Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, thì đối với trường hợp nam nữ chung sống với nhau trước ngày 3/1/1987 không đăng ký kết hôn nhưng tuân thủ các điều kiện kết hôn thì vẫn được thừa nhận.

     Để được tư vấn chi tiết về các trường hợp chung sống như vợ chồng quý khách vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật đất đai miễn phí 24/7: 1900.6500 để để được luật sư tư vấn hoặc gửi câu hỏi về địa chỉ Gmail: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất!

      Xin chân thành cảm ơn!