Vợ có con với người khác khi chưa ly hôn chồng có vi phạm pháp luật không?

Vợ có con với người khác khi chưa ly hôn chồng là hành vi vi phạm chế độ hôn nhân và có thể bị truy cứu TNHS với mức phạt cao nhất là 3 năm tù

Câu hỏi của bạn:

     Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi muốn nhờ Luật sư tư vấn giúp như sau: Tôi và vợ đã kết hôn được hơn 5 năm, 1 năm trở lại đây, tình cảm của hai vợ chồng không còn được mặn mà như trước và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, gần đây tôi mới phát hiện cô ấy đã có người khác và thậm chí đã mang thai với người đàn ông đó khi chúng tôi vẫn đang sống với nhau. Hiện tại chúng tôi đang tiến hành thủ tục ly hôn. Tôi muốn hỏi Luật sư, hành vi của vợ tôi như vậy có vi phạm quy định nào của pháp luật và có thể phải chịu chế tài gì? Sau khi ly hôn, con do vợ tôi sinh ra sẽ được xác định là con của vợ chồng tôi hay con của cô ấy và người đàn ông kia? Rất mong nhận được câu trả lời của Luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu trả lời của Luật sư:

     Luật Toàn Quốc cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về vấn đề vợ có con với người khác khi chưa ly hôn chồng, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn vềvấn đề vợ có con với người khác khi chưa ly hôn chồng như sau: 

Căn cứ pháp lý:

     Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nhằm chung sống với nhau và xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm giữa hai bên và tương trợ lẫn nhau về những nhu cầu vật chất trong đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, ở một mặt khác của hôn nhân, khi tình cảm vợ chồng không còn sẽ dẫn tới việc mâu thuẫn, xung đột thậm chí dẫn đến hành vi “ngoại tình”. Hiện nay, có không ít trường hợp các cặp vợ chồng mặc dù chưa ly hôn nhưng đã xuất hiện tình trạng vợ hoặc chồng “có người mới”, có trường hợp còn có con với người đó khi chưa tiến hành thủ tục ly hôn với vợ hay chồng hiện tại. 

1. Hậu quả pháp lý đối với hành vi có con với người khác khi chưa ly hôn

    Trong xã hội tiến bộ ngày nay, hôn nhân một vợ một chồng là chế độ được nhà nước tôn trọng và bảo hộ. Do đó, đối với những hành vi vi phạm chế độ này sẽ phải chịu những chế tài nhất định theo quy định của pháp luật.

1.1 Có con với người khác khi chưa ly hôn là hành vi vi phạm chế độ hôn nhân gia đình.

     Nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, tại Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định như sau: 

Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;

    Trường hợp của bạn, mặc dù tình cảm của hai vợ chồng không tốt và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nhưng hai người vẫn chung sống với nhau, quan hệ hôn nhân giữa hai người vẫn chưa chấm dứt. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa hai người vẫn được pháp luật bảo vệ và ở phương diện pháp lý hai bạn vẫn là vợ chồng của nhau. Như vậy, đối chiếu với quy định trên, hành vi qua lại và có con với người khác của vợ bạn đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng được pháp luật bảo hộ. 

1.2 Xử phạt hành vi có con với người khác khi chưa ly hôn

    Hôn nhân là một quan hệ thiêng liêng giữa nam và nữ được pháp luật công nhận và bảo hộ. Do đó đối với những hành vi vi phạm quan hệ này sẽ phải chịu những chế tài nhất định theo quy định của pháp luật. Theo đó, người có hành vi vi phạm chế độ này sẽ đứng trước nguy cơ phải chịu những hậu quả pháp lý sau:

   Thứ nhất, người vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt theo quy định tại Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực hôn nhân gia đình như sau:

Điều 59. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

 d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.

    Ngoài việc bị xử lý vi phạm hành chính, người vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 182 BLHS 2015 sửa đổi và bổ sung năm 2017, cụ thể:

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

   Như vậy, đối với trường hợp của gia đình bạn, việc vợ bạn có con với người khác trong khi vẫn đang trong mối quan hệ hôn nhân với bạn là hành vi xâm phạm đến chế độ hôn nhân một vợ, một chồng được nhà nước bảo hộ. Do đó, vợ bạn và người qua lại với vợ bạn có thể bị xử phạt hành chính số tiền từ 3.000.000 – 5.000.000 triệu đồng. Ngoài ra, nếu bạn chứng minh được việc ly hôn của hai người xuất phát từ lý do vợ bạn có con với người khác thì vợ bạn còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt tù từ 03 tháng đến 1 năm.

2. Xác định con chung sau khi ly hôn

   Việc xác định con chung trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình 2014, cụ thể:

  • Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
  • Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
  • Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
   Theo như thông tin bạn cung cấp, hiện tại vợ bạn đang mang thai con của một người đàn ông khác và hai người vẫn đang trong quá trình giải quyết ly hôn. Do đó, khi đứa bé ra đời chắc chắn sẽ nằm trong khoảng thời gian 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng bạn. Đối chiếu với quy định của pháp luật thì đứa trẻ đó được xác định là con của bạn và vợ bạn trong thời kỳ hôn nhân.
     Kết luận: Hôn nhân là quan hệ gắn liền với nhân thân của mỗi bên nam nữ với tư cách là vợ chồng. Trong xã hội mà các quan hệ hôn nhân được coi là quan hệ pháp luật thì sự liên kết giữa người nam và người nữ mang ý nghĩa như một sự kiện pháp lý làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định cho các bên trong quan hệ vợ chồng. Do đó, khi một trong hai bên có sự vi phạm trong việc thực hiện quyền hay nghĩa vụ đó sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi nhất định.

4. Tình huống tham khảo: Xác định cha cho con sinh ra sau khi vợ chồng ly hôn

     Thưa Luật sư, tôi muốn nhờ Luật sư tư vấn giúp vấn đề sau, vợ tôi có thai với người khác trước khi chúng tôi ly hôn. Sau này, khi đứa trẻ sinh ra, tôi không muốn nhận đứa trẻ đó là con mình có được không. Rất mong nhận được phản hồi của Luật sư! Tôi xin chân thành cảm ơn!

    Theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình 2014, con sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày chấm dứt quan hệ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, lường trước được những tình huống vợ hoặc chồng ngoại tình dẫn đến việc có con với người khác khi vẫn đang trong mối quan hệ hôn nhân do pháp luật bảo hộ. Nhằm bảo vệ người còn lại, pháp luật về hôn nhân gia đình có quy định về việc xác định con như sau:

  • Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.
  • Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.

      Với trường hợp của bạn, đến khi đứa trẻ chào đời, bạn có thể yêu cầu xét nghiệm quan hệ cha con giữa hai người. Trong trường hợp không phải con mình và bạn không muốn nhận đứa trẻ đó thì bạn được quyền yêu cầu Tòa án xác định đứa trẻ đó không phải con mình.

Dịch vụ hỗ trợ khách hàng về vấn đề vợ có con với người khác khi chưa ly hôn chồng:

Tư vấn qua Tổng đài 19006500: Đây là hình thức tư vấn được nhiều khách hàng sử dụng nhất, vì bạn có thể đặt thêm các câu hỏi về vấn đề vợ có con với người khác khi chưa ly hôn chồng như mức phạt đối với hành vi có con với người khác khi chưa ly hôn; cách xác định cha, mẹ cho con;…. Chỉ sau một vài câu hỏi của Luật Sư, vấn đề của bạn sẽ được giải quyết; bạn có thể gọi cho Luật Toàn Quốc vào bất cứ thời gian nào chúng tôi luôn sẵn sàng tư vấn cho bạn.

Tư vấn qua Email: Bạn có thể gửi Email câu hỏi về vấn đề vợ có con với người khác khi chưa ly hôn  chồng tới địa chỉ: lienhe@luattoanquoc.com chúng tôi sẽ biên tập và trả lời qua Email cho bạn. Tuy nhiên việc trả lời qua Email sẽ mất nhiều thời gian và không thể diễn tả được hết ý của câu hỏi vì vậy bạn nên gọi cho Luật Toàn Quốc để được tư vấn tốt nhất.

     Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./.

Chuyên viên: Nguyễn Kiều