• Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội
  • Công ty Luật TNHH Toàn Quốc
  • MST: 0108718004

Luật sư tư vấn gọi: 1900 6500

Dịch vụ tư vấn trực tiếp: 0918243004

Vừa nhận trợ cấp thất nghiệp và nhận trợ cấp thôi việc có được không. Trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp được hiểu thế nào?

  • Vừa nhận trợ cấp thất nghiệp và nhận trợ cấp thôi việc có được không
  • Vừa nhận trợ cấp thất nghiệp và nhận trợ cấp thôi việc có được không
  • Pháp luật lao động
  • 19006500
  • Tác giả:
  • Đánh giá bài viết

Vừa nhận trợ cấp thất nghiệp và nhận trợ cấp thôi việc có được không

1. Trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thôi việc được hiểu thế nào?

    Trợ cấp thất nghiệp là khoản tiền cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả cho người lao động sau khi chấm dứt sử dụng lao động với người sử dụng lao động.  

      Trợ cấp thôi việc là khoản tiền hỗ trợ tài chính do đơn vị/ người sử dụng lao động chi trả bổ sung cho người lao động sau khi nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc. Tuy nhiên, không phải người lao động nào sau nghỉ việc cũng sẽ được nhận khoản tiền trợ cấp này mà phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện hưởng theo quy định của Pháp luật.

Vừa nhận trợ cấp thất nghiệp và nhận trợ cấp thôi việc có được không

2. Vừa nhận trợ cấp thất nghiệp và nhận trợ cấp thôi việc có được không

     Căn cứ theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 quy định trợ cấp thôi việc như sau:

Điều 46. Trợ cấp thôi việc

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

     Căn cứ theo Điều 49 Luật Việc làm 2013 quy định một trong những điều kiện để nhận bảo hiểm thất nghiệp là phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Theo đó, nếu đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc. 

      Việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp là yêu cầu bắt buộc khi ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên, tham gia bảo hiểm thất nghiệp đã được áp dụng từ ngày 01/01/2009.

      Điều này đồng nghĩa với việc, thời gian làm việc trước ngày 01/01/2009 mới tính hưởng trợ cấp thôi việc. Tuy nhiên, người lao động làm việc từ ngày 01/01/2009 đến nay vẫn có những khoảng thời gian không đóng bảo hiểm thất nghiệp (tức là được tính thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc) theo điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP gồm: 

  •  Thời gian thử việc;
  •  Người lao động nghỉ việc từ 14 ngày trở lên trong tháng thuộc trường hợp:

- Nghỉ không hưởng lương;

- Nghỉ chế độ thai sản;

- Nghỉ chế độ ốm đau từ 14 ngày trở lên trong tháng.

      Như vậy, người lao động vừa nhận trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp thôi việc khi người lao động nghỉ việc nếu người lao động thỏa mãn các điều kiện nêu trên theo quy định.

Hiện nay vừa nhận trợ cấp thất nghiệp và nhận trợ cấp thôi việc có được không

3. Mức phạt khi công ty không trả trợ cấp thôi việc cho người lao động?

     Căn cứ theo khoản 2 Điều 12 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định về mức phạt khi công ty không trả trợ cấp thôi việc cho người lao động như sau:

Điều 12. Vi phạm quy định về sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng lao động .......................

2. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Sửa đổi thời hạn của hợp đồng bằng phụ lục hợp đồng lao động; không thực hiện đúng quy định về thời hạn thanh toán các khoản về quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động; không trả hoặc trả không đủ tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động theo quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền cho người lao động theo quy định của pháp luật khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật; không hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác đã giữ của người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; không cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu sau khi chấm dứt hợp đồng lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

......................

      Như vậy, tùy theo mức độ vi phạm mà người sử dụng lao động có thể sẽ bị phạt lên đến 20 triệu đồng khi không trả trợ cấp thôi việc cho người lao động.

       Lưu ý: theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định đối với tổ chức thì mức phạt có thể lên đến 40 triệu đồng.

Bài viết tham khảo khác của Luật Toàn Quốc:

4. Hỏi đáp về vừa nhận trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp thôi việc có được không

Câu hỏi 1: Luật sư cho tôi hỏi:  những trường hợp nào không được nhận trợ cấp thôi việc? Tôi cảm ơn!

    Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, có 02 trường hợp dù có đủ các điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc nhưng không được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp đó là:

  • Người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu.
  • Người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động do tự ý bỏ việc từ 05 ngày liên tục mà không có lý do chính đáng.

     Như vậy, người lao động sẽ không được nhận trợ cấp thôi việc trong hai trường hợp trên.

Câu hỏi 2: Luật sư cho tôi hỏi: thời gian nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp là bao lâu? Tôi cảm ơn!

    Căn cứ theo điểm 1 Điều 46 Luật việc làm 2013 quy định về hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau: trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.

    Theo đó, thời gian nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp là trong vòng 3 tháng kể từ ngày người lao động chấm dứt hợp đồng lao đồng/ hợp đồng làm việc với công ty.

Liên hệ Luật sư tư vấn về: vừa nhận trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp thôi việc có được không

Nếu bạn đang gặp vướng mắc về vừa nhận trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp thôi việc có được không mà không thể tự mình giải quyết được, thì bạn hãy gọi cho Luật Sư. Luật Sư luôn sẵn sàng đồng hành, chia sẻ, giúp đỡ, hỗ trợ tư vấn cho bạn về vừa nhận trợ cấp thất nghiệp và trợ thôi việc có được không. Bạn có thể liên hệ với Luật Sư theo những cách sau.

  •   Luật sư tư vấn miễn phí qua tổng đài: 19006500      
  •  Tư vấn qua Zalo: Số điện thoại zalo Luật sư: 0931191033
  •  Tư vấn qua Email: Gửi câu hỏi tới địa chỉ Email: [email protected]

Bài viết tham khảo khác:

 Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn!

Chuyên viên: Nguyễn Huệ

Tư vấn miễn phí gọi: 1900 6178