Quá hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp có bị mất trợ cấp hay không

Khi quá hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp người lao động thường lo lắng mình sẽ bị mất quyền lợi mà không biết rằng số tiền trợ cấp sẽ được bảo lưu.

QUÁ HẠN ĐĂNG KÝ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

Câu hỏi của bạn về trường hợp quá hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp

     Xin chào Luật sư, hiện nay mình có một thắc mắc như sau: Mình có làm công ty nhưng ngày mình nghỉ công ty đóng bảo hiểm có vấn đề không trả sổ ngay mà đến 3 tháng 10 ngày mới trả sổ, vậy mình đi đăng ký thất nghiệp được không ạ. Mong nhận được câu trả lời từ Luật sư. Mình xin cảm ơn. 

Câu trả lời của Luật sư về trường hợp quá hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp

     Chào bạn, Luật Toàn Quốc xin cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về quá hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn về quá hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp như sau:

1. Căn cứ pháp lý về trường hợp quá hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp 

2. Nội dung tư vấn về quá hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp

     Như thông tin mà chúng tôi nhận được thì hiện nay bạn đang có cần giải đáp về trường hợp quá hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp. Để rõ hơn về vấn đề này chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn dựa trên các phương diện sau:

Quá hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp

2.1. Điều kiện để hưởng bảo hiểm thất nghiệp

     Trước tiên, để tìm hiểu về bảo hiểm thất nghiệp thì bạn cần biết được quy định của pháp luật về điều kiện để hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Hiện nay, về vấn đề này Điều 49 Luật Việc làm có quy định như sau:

Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.

     Như vậy, người lao động sẽ được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: 

          – Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật, hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

          – Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn 

          – Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

          – Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp. 

     Do thông tin bạn cung cấp cho chưa đầy đủ nên chúng tôi rất khó xác định bạn có đủ điều kiện được hưởng bảo hiểm thất nghiệp hay không. Tuy nhiên dựa vào những quy định mà chúng tôi đã trích dẫn, bạn có thể tự xác định xem mình có đủ điều kiện để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp hay không. 

2.2. Thời hạn để nộp hồ sơ đăng ký bảo hiểm thất nghiệp 

     Để có thể được hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì điều đầu tiên mà người lao động phải làm là nộp hồ sơ cho trung tâm dịch vụ việc làm ở địa phương để giải quyết quyền lợi. 

     Khoản 1 Điều 46 Luật Việc làm có quy định như sau về thời hạn để nộp hồ sơ như sau:

Điều 46. Hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.

2. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày trung tâm dịch vụ việc làm tiếp nhận đủ hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp; trường hợp không đủ điều kiện để hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp thì phải trả lời bằng văn bản cho người lao động.

3. Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện việc chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp.

     Như vậy, trong thời hạn 3 tháng kể từ khi chấm dứt hợp đồng, người lao động phải nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm nơi mình sinh sống. Theo đó, cơ quan BHXH chỉ giải quyết hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng. Sau thời hạn này nghĩa là đã quá hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp sẽ không giải quyết hồ sơ nữa. 

     Trong trường hợp của bạn, vì bạn nhận được sổ bảo hiểm sau 3 tháng 10 ngày nên chúng tôi xác định đã quá thời hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp và bạn sẽ không được nộp hồ sơ nữa. 

Quá hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp

2.3. Bảo lưu tiền bảo hiểm khi quá hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp 

     Khi quá hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp, một câu hỏi mà nhiều người đặt ra là quyền lợi của mình sẽ được giải quyết như thế nào và liệu có mất trắng số tiền bảo hiểm hay không? Về vấn đề này thì hiện nay tại khoản 6 Điều 18 Nghị định 28/2015/NĐ-CP có quy định như sau: 

Điều 18. Giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp

6. Sau thời hạn 03 tháng kể từ ngày người lao động hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp và không thông báo bằng văn bản với tổ chức bảo hiểm xã hội nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp thì người lao động đó được xác định là không có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tương ứng với số tiền trợ cấp thất nghiệp mà người lao động không đến nhận được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc sau thời hạn nêu trên, tổ chức bảo hiểm xã hội phải thông báo bằng văn bản với trung tâm dịch vụ việc làm nơi người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp về việc người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp. Thông báo về việc người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức bảo hiểm xã hội, trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm xem xét, trình Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

Quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được trung tâm dịch vụ việc làm gửi: 01 bản đến Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để thực hiện bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; 01 bản đến người lao động. Quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định.

7. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Khoản 2 Điều 50 Luật Việc làm. Người lao động có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 36 tháng thì những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.

     Đồng thời tại khoản 1 Điều 9 Thông tư 28/2015/TT-BLĐTBXH có quy định về bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp như sau:

Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu

=

Tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp

Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp đã hưởng trợ cấp thất nghiệp

     Như vậy, dựa vào quy định trên có thể thấy rằng nếu bạn không nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp trong vòng ba tháng thì cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ mặc định rằng bạn không có nhu cầu hưởng trợ cấp nữa. Tuy nhiên bạn không cần quá lo lắng vì số tiền trợ cấp đó sẽ được bảo lưu cho lần tiếp theo mà không bị mất đi. 

     Sau khi nhận được thông báo của trung tâm dịch vụ việc,Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ ra quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp bạn, bạn cũng sẽ nhận được một bản quyết định này. 

     KẾT LUẬN: Như vậy, qua những phân tích ở trên, chúng tôi xác định bạn đã quá thời hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệp, do đó sẽ không thể gửi hồ sơ để được hưởng trợ cấp nữa. Tuy nhiên bạn cũng không cần quá lo lắng vì số tiền trợ cấp đó sẽ được bảo lưu và không bị mất đi. 

Bài viết tham khảo:

     Để được tư vấn chi tiết về trường hợp quá hạn đăng ký bảo hiểm thất nghiệpquý khách vui lòng liên hệ tới  Tổng đài tư vấn pháp luật lao động 19006500 để được luật sư tư vấn  hoặc Gửi câu hỏi về địa chỉ Email: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

   Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./.

Chuyên viên: Hải Quỳnh