Hậu quả pháp lý khi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Hiện nay người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với người lao động với các lý do khác nhau để chấm dứt hợp đồng

 CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRÁI PHÁP LUẬT 

     Cho tôi hỏi: Tôi đang làm việc tại công ty TNHH A với hợp đồng không xác định thời hạn. Vừa qua, tôi bị công ty cho nghỉ việc vì lý do công ty gặp khó khăn, không thể sắp xếp công việc mặc dù tôi đang làm việc bình thường. Luật sư cho tôi hỏi công ty làm như vậy có đúng không?

Câu trả lời của Luật sư:

     Chào bạn, Luật Toàn Quốc xin cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về vấn đề chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn về vấn đề chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật này như sau:

Căn cứ pháp lý

1. Chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là gì?

     Chấm dứt hợp đồng lao động và việc kết thúc toàn bộ việc thực hiện thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động đã ghi nhận trong hợp đồng lao động, bên có nghĩa vụ không còn trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ, còn bên có quyền không thể yêu cầu bên còn lại tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho mình.

     Đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động là một trong các hình thức đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên, do một số nguyên nhân khác nhau mà người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với người lao động

2.  Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

2.1. Các trường hợp người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

     Người sử dụng lao động chỉ có quyền chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 38 BLLĐ, cụ thể:

Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

     Theo quy định trên, người sử dụng lao động chỉ được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp: người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng; người lao động bị ốm đau, tai bạn đã theo điều trị theo thời hạn; do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng theo quy định pháp luật mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc; người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn 15 ngày kể từ ngày tạm hoãn hợp đồng. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động ngoài các trường hợp được quy đinh ở trên được coi là chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

     Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, bạn bị công ty cho nghỉ việc với lý do công ty gặp khó khăn, không thể thu xếp công việc cho bạn, đối chiếu với quy định trên thì công ty đã chấm dứt hợp đồng lao động với bạn trái với quy định của pháp luật. Do vậy, công ty sẽ phải thực hiện một số nghĩa vụ cụ thể đối với người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động. Ngoài ra, trước khi chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động, người sử dụng lao động phải thực hiện nghĩa vụ báo trước cho người lao động biết theo quy định tại khoản 2 Điều 38 BLLĐ:

  • Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
  • Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;
  • Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

2.2. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

     Khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động trái pháp luật sẽ phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định cho người lao động, cụ thể được quy định tại Điều 42 của BLLĐ:

Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước

     Như vậy, theo quy định trên, người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật phải thực hiện các nghĩa vụ đối với người lao động, bao gồm:

  • Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
  • Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường như trên, người sử dụng lao động còn phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động.
  • Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường theo quy định và khoản trợ cấp thất nghiệp, hai bên thoả thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
  • Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
  • Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Quyền lợi của người lao động khi bị chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật 

3.1. Được nhận trở lại làm việc

     Người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật sẽ được nhận trở lại làm việc theo hợp đồng đã giao kết. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên có thể thương lượng, sửa đổi, bổ sung hợp đồng

3.2. Các khoản tiền bồi thường do chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

  • Khoản bồi thường bằng ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động
  • Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, 
  • hai bên thoả thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
  • Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì  người lao động được hưởng một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3.3. Trợ cấp thôi việc

     Ngoài các khoản bồi thường như trên, người lao động còn được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 BLLĐ:

Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

3.4. Khoản nợ lương ( nếu có)

     Trong thời gian làm việc, nếu công ty còn đang nợ, chưa thanh toán lương cho người lao động thì người sử dụng lao động phải tiến hành thanh toán khoản nợ cho người lao động trong thời hạn pháp luật quy định

3.5. Nhận tiền lương những ngày chưa nghỉ

Điều 114 BLLĐ 2012 có quy định về tiền lương những ngày phép chưa nghỉ, cụ thể:

Điều 114. Thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ

1. Người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ.

2. Người lao động có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc. Trường hợp không nghỉ thì được thanh toán bằng tiền.

     Tiền lương làm căn cứ trả cho người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm được quy định tại Khoản 3 Điều 26 Nghị định 05/2015 hướng dẫn một số điều của Bộ luật lao động. Tiền lương sẽ được tính như sau:

  • Đối với người lao động đã làm việc từ đủ 06 tháng trở lên là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm.
  • Đối với người lao động chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm vì các lý do khác là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người sử dụng lao động tính trả bằng tiền những ngày chưa nghỉ hằng năm;
  • Đối với người lao động có thời gian làm việc dưới 06 tháng là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của toàn bộ thời gian làm việc.

     Như vậy, người lao động sẽ được hưởng mức tiền lương nghỉ hàng năm khác nhau  tuỳ thuộc vào thời gian làm việc của người lao động.

3.6. Hưởng trợ cấp thất nghiệp 

     Vấn đề hưởng trợ cấp thất nghiệp hiện nay đã được quy định tại Điều 46 Luật Việc làm 2013, theo đó:

Điều 46. Hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.

2. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày trung tâm dịch vụ việc làm tiếp nhận đủ hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp; trường hợp không đủ điều kiện để hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp thì phải trả lời bằng văn bản cho người lao động.

3. Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện việc chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp.

     Như vậy, trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm để được chi trả trợ cấp thất nghiêp. Tuy nhiên, để được hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động cũng cần phải đáp ứng được các điều kiện nhất định do pháp luật quy định. Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp hiện nay được quy định tại Điều 49 Luật Việc làm 2013, cụ thể:

Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.

     Như vậy, nếu người lao động khi bị chấm dứt hơp đồng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm và chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì người lao động sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp. Trường hợp không đủ điều kiện để hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp thì phải trả lời bằng văn bản cho người lao động.

3.7. Nhận lại giấy tờ, hồ sơ mà người sử dụng lao động đã giữ trong quá trình làm việc

     Người lao động sẽ được thông báo trước để chuẩn bị và thanh toán các khoản có liên quan đến quyền lợi của mình, được trả lại giấy tờ mà công ty đã giữ trong quá trình làm việc theo quy định tại Điều 47 BLLĐ:

Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.

     Như vậy, bạn sẽ được thanh toán các khoản lương, thưởng và các khoản chi phí đã cam kết hay chi phí hỗ trợ khác trong quá trình làm việc, trả lại sổ bảo hiểm cũng như các giấy tờ cá nhân của mình sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động.

     Kết luận: Từ các thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi xin được tư vấn cho bạn về chấm dứt hợp đồng lao động như trên. Bạn có thể căn cứ vào các quy định này để có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, có nhiều thông tin mà Luật sư có thể chưa nắm rõ, bạn có thể sử dụng dịch vụ của công ty chúng tôi để có thể được tư vấn một cách chi tiết và hiệu quả nhất.

Dịch vụ hỗ trợ khách hàng về chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Tư vấn qua điện thoại: Đây là hình thức tư vấn được nhiều khách hàng sử dụng nhất, vì bạn có thể đặt thêm các câu hỏi về thủ tục chấm dứt hợp đồng, trợ cấp mất việc, trợ cấp thôi việc, quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng mà bạn còn chưa rõ. Chỉ sau một vài câu hỏi của Luật Sư, vấn đề của bạn sẽ được giải quyết; bạn có thể gọi cho Luật Toàn Quốc vào bất cứ thời gian nào chúng tôi luôn sẵn sàng tư vấn cho bạn.

 

Tư vấn qua Email: Bạn có thể gửi Email câu hỏi về địa chỉ: lienhe@luattoanquoc.com chúng tôi sẽ biên tập và trả lời qua Email cho bạn. Tuy nhiên việc trả lời qua Email sẽ mất nhiều thời gian và không thể diễn tả được hết ý của câu hỏi vì vậy bạn nên gọi cho Luật Toàn Quốc để được tư vấn tốt nhất.

 

Tư vấn trực tiếp: Nếu bạn sắp xếp được công việc và thời gian bạn có thể đến trực tiếp Công ty Luật Toàn Quốc để được tư vấn. Lưu ý trước khi đến bạn nên gửi câu hỏi, tài liệu kèm theo và gọi điện đặt lịch hẹn tư vấn trước để Luật Toàn Quốc sắp xếp Luật Sư tư vấn cho bạn, khi đi bạn nhớ mang theo hồ sơ.

 

Dịch vụ thực tế: Luật Toàn Quốc cung cấp dịch vụ pháp lý về chấm dứt hợp đồng lao động như: tham gia bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi có tranh chấp về hợp đồng lao động/tiền lương khi chấm dứt hợp đồng lao động; đại diện cho khách hàng làm việc với các cơ quan, cá nhân, tổ chức có liên quan; soạn thảo đơn khởi kiện…

Bài viết tham khảo

Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./.  

Chuyên viên: Hương Ly