Vợ lén lút lấy tiền lương của chồng trong thời kỳ ly thân có phạm tội không?

Vợ lén lút lấy tiền lương của chồng trong thời kỳ ly thân có phạm tội không? Tiền lương của chồng là thu nhập do lao động nên là tài sản chung. Tuy nhiên,..

VỢ LÉN LÚT LẤY TIỀN LƯƠNG CỦA CHỒNG TRONG THỜI KỲ LY THÂN CÓ PHẠM TỘI.

Kiến thức của bạn:

    Trong thời kỳ vợ chồng sống ly thân, vợ lén lút lấy tiền lương của chồng phạm tội gì?

Kiến thức của luật sư:

     Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Phòng tư vấn luật qua email- Luật Toàn quốc. Chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư như sau:

Căn cứ pháp lý:

Nội dung tư vấn: Vợ lén lút lấy tiền lương của chồng trong thời kỳ vợ chồng sống ly thân phạm tội gì?

       Để trả lời cho câu hỏi của bạn: vợ lén lút lấy tiền lương của chồng có phạm tội không, chúng tôi sẽ làm rõ các vấn đề liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ ly thân và các dấu hiệu cấu thành tội trộm cắp tài sản được pháp luật quy định.

1. Quy định chung của pháp luật về tài sản của vợ chồng.

        Hiện nay, tình trạng ly thân diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, trong luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa có quy định về vấn đề này nên ta có thể hiểu ly thân là việc sống riêng giữa vợ và chồng trong một khoảng thời gian nhất định; cả hai vợ chồng không ăn chung, ở chung, không sinh hoạt vợ chồng. Mục đích của ly thân là để giảm thiểu những bất hòa, căng thẳng, áp lực trong cuộc sống hôn nhân…

       Trong thời gian ly thân hai người vẫn là vợ chồng được pháp luật công nhận, có quyền và nghĩa vụ nhất định đối với nhau và đối với con cái. Do đó, chế định về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ ly thân cũng được hiểu đó là tài sản trong thời kỳ hôn nhân, trong đó có tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng được quy định như sau:

a. Tài sản chung của vợ chồng.

          Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

     Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

     2.Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

     3.Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

b. Tài sản riêng của vợ, chồng.

     Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

     1.Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ chồng theo quy định tại các điều 38, 39, và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

      2.Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

     Như vậy, trong thời kỳ hôn nhân (ly thân) thì tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động… nếu như không có thỏa thuận nào khác giữa hai vợ chồng về tài sản đó là tài sản riêng của mỗi người thì đó là tài sản chung. Việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập quan hệ sở hữu đối với tài sản đó, để xác định hành vi của vợ lén lút lấy tiền lương của chồng nêu trên có cấu thành tội phạm hay không.

Vợ lén lút lấy tiền lương của chồng

Vợ lén lút lấy tiền lương của chồng

2. Vợ lén lút lấy tiền lương của chồng phạm tội gì?

          Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

  1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

a. Khách thể của tội trộm cắp tài sản.

        Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm phạm. Đối với tội trộm cắp tài sản được hiểu là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác và người chủ tài sản không hay biết tài sản của mình đang bị chiếm đoạt. Tội trộm cắp tài sản xâm hại quyền sở hữu của người khác về tài sản.

b. Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản.

        Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi lén lút để chiếm đoạt tài sản của người khác.

        – Lén lút được hiểu là hành vi có ý thức che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản đối với người đang chiếm hữu tài sản. Ví dụ: lợi dụng lúc chủ tài sản ngủ say để bí mật đột nhập vào nhà lấy đi tài sản hay việc vợ lén lút lấy tiền lương của chồng khi có sự thỏa thuận của hai vợ chồng đó là tài sản riêng của chồng trong thời kỳ hôn nhân.

       Một số trường hợp người phạm tội không những chỉ có ý thức bí mật đối với người quản lý tài sản mà còn bí mật đối với người xung quanh khu vực có tài sản. Người phạm tội không những chỉ có ý thức che giấu hành vi mà còn có ý thức che giấu tính bất hợp pháp của hành vi đó. Ví dụ: một người bí mật lấy chìa khoá xe máy của bạn đi đánh chìa khoá khác, ngang nhiên lấy xe làm cho mọi người tưởng đó là xe của người này…

       Tội phạm được hoàn thành khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản. Để xác định tội phạm đã hoàn thành hay chưa phải dựa vào đặc điểm vị trí tài sản bị chiếm đoạt trong từng trường hợp cụ thể:

+ Nếu vật chiếm đoạt nhỏ, gọn thì được coi là đã chiếm đoạt được tài sản từ thời điểm người phạm tội đã giấu được tài sản đó trong người.

+ Trong trường hợp tài sản chiếm đoạt không thuộc loại nói trên thì coi là đã chiếm đoạt được khi đã mang tài sản ra khỏi nơi bảo quản…

         Một người chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản khi tài sản bị lấy trộm có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp sau:

        gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

          Nếu một người có hành vi trộm cắp tài sản của người khác, đã chiếm đoạt được tài sản nhưng sau đó bị phát hiện đã chống trả để giữ bằng được tài sản đó thì hành vi phạm tội đã chuyển hoá từ tội trộm cắp tài sản sang tội cướp tài sản.

c. Chủ thể của tội trộm cắp tài sản.

     Thứ nhất, Chủ thể của tội cưỡng đoạt tài sản là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nghĩa là khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội người đó có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và có khả năng điều khiển được hành vi ấy.

     Thứ hai, phải đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật tại Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

          Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ các quy định khác.

         Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304. (Điều 12 sửa đổi, bổ sung năm 2017)

d. Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản.

     Mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm lỗi, mục đích và động cơ.

     Hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội luôn gắn liền với các biểu hiện bên ngoài. Dù người phạm tội nhận thức được hành vi đó là trái pháp luật nhưng người phạm tội vẫn mong muốn chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội đây là lỗi cố ý.

3. Tư vấn cụ thể trường hợp vợ lén lút lấy tiền lương của chồng.

        Trường hợp mà bạn nêu ở trên là hai người đang ở tình trạng ly thân, tức là không còn chung sống với nhau, không ăn chung… nhưng không vì vậy mà tài sản chung của vợ chồng không còn tồn tại hay bị chia tách, bởi thời kỳ ly thân thì hai người vẫn là vợ chồng được pháp luật công nhận, có quyền và nghĩa vụ nhất định đối với nhau và đối với con cái.

        Tiền lương của người chồng là thu nhập do lao động nên có thể là tài sản chung của hai vợ chồng. Tuy nhiên, nếu trước và trong khi kết hôn hai vợ chồng có thỏa thuận về việc tiền lương của người chồng kiếm được là tài sản riêng của chồng thì đó là tài sản riêng của chồng. Xác định vấn đề tiền lương đó là tài sản riêng của người chồng hay không là để xác định quan hệ sở hữu của người vợ đối với tài sản đó.

     + Nếu đó là tài sản chung của vợ, chồng thì tiền lương đó việc người vợ lén lút lấy trộm tiền lương của chồng đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

     + Nếu đó là tài sản riêng của người chồng thì việc người vợ lén lút lấy tiền lương của chồng có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản nếu có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội trộm cắp tài sản đã phân tích phía trên.

     Một số bài viết tham khảo.

     Trên đây là ý kiến tư vấn pháp luật của chúng tôi về trường hợp vợ lén lút lấy tiền lương của chồng trong thời kỳ ly thân. Nếu còn bất cứ vướng mắc nào, bạn vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn luật hình sự miễn phí 24/7 : 19006500 để gặp trực tiếp luật sư tư vấn và  để  yêu cầu  cung cấp dịch vụ. Hoặc Gửi nội dung tư vấn qua email: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của bạn.Chúng tôi luôn mong nhận được ý kiến đóng góp của mọi người để chúng tôi ngày càng trở lên chuyên nghiệp hơn.

      Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của mọi người.

      Trân trọng ./.

     Liên kết ngoài tham khảo: