• Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội
  • Công ty Luật TNHH Toàn Quốc
  • MST: 0108718004

Luật sư tư vấn gọi: 1900 6500

Dịch vụ tư vấn trực tiếp: 0918243004

Dấu hiệu khởi tố vụ án hình sự tội vu khống được quy định tại Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:

  • Dấu hiệu khởi tố vụ án hình sự tội vu khống
  • Dấu hiệu khởi tố vụ án hình sự tội vu khống
  • Pháp luật hình sự
  • 19006500
  • Tác giả:
  • Đánh giá bài viết

DẤU HIỆU KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ TỘI VU KHỐNG

Câu hỏi của bạn:

     Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi muốn nhờ Luật sư tư vấn giúp như sau: Em có hợp tác với 1 công ty khác để đặt mua đồ cho công ty em. Công ty em đã chuyển khoản đặt cọc. Tuy nhiên, khi giao thành phẩm, em kiểm tra thấy không đúng như yêu cầu nên em từ chối nhận hàng và lấy hóa đơn về. Sau khi trao đổi lại với anh Giám Đốc bên đó (cũng đồng thời là người làm việc trực tiếp khi em đặt hàng), do không đi đến thỏa thuận cuối cùng nên em yêu cầu công ty này hoàn trả lại cho em số tiền đặt cọc. Em đã gửi email, nhưng anh Giám Đốc này không trả lời. Em đã cố liên hệ bằng ĐT, nhưng số em đã bị chặn. Chuyện này là chuyện công ty, nên cả công ty em ai cũng biết. Sau đó vài ngày, anh GĐ này gọi điện lại. Không biết ai đã đăng tin công ty anh này lừa đảo trên facebook. Anh ta tưởng là em làm. Anh ta hăm dọa sẽ lên công ty em và sẽ đưa công an đến. Anh ta gọi điện, nhắn tin 1 mực nói rằng em sử dụng sim rác làm mất uy tín Công ty anh ta. Tối hôm đó, anh ta đã lên facebook, đăng tải toàn bộ thông tin công ty em, địa chỉ công ty, mã số thuế, sđt của em, hình ảnh... Và bịa đặt rằng: công ty em nợ tiền và lấy hóa đơn của công ty ta (trong khi chính nhân viên của công ty anh ta đã cầm về). Điều này vô cùng tổn hại đến danh dự của cá nhân em và uy tín của công ty em. Em muốn đưa trường hợp này ra pháp luật. Mong Luật sư tư vấn giúp!

Căn cứ pháp lý:

1. Phân tích những dấu hiệu khởi tố vụ án hình sự tội vu khống trong trường hợp cụ thể nêu trên    

     Trong cuộc sống hiện nay, có rất nhiều hành vi nói dối, khai giả, bịa đặt..làm tổn hại tới uy tín, danh dự của người khác. Tuy nhiên, không phải lúc nào những hành vi đó cũng cấu thành tội phạm hình sự tội vu khống mà có thể hành vi đó chỉ bị xử lý vi phạm hành chính hoặc là bị nhắc nhở, cảnh cáo. Bộ luật hình sự đang có hiệu lực thi hành quy định về tội vu khống tại điều 122. Đây là một trong số những tội xâm phạm tới uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác, mà những quyền thân nhân đó được pháp luật hình sự bảo vệ.

Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:      

a) Có tổ chức;      

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;      

c) Đối với nhiều người;      

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;     

đ) Đối với người thi hành công vụ;      

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.      

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

     Phân tích cấu thành tội phạm của loại tội này

  • Chủ thể của tội vu khống

     Là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

  • Khách thể của tội vu khống

     Xâm phạm danh dự nhân phẩm của người khác.

  • Mặt khách quan của tội vu khống

     Tội vu khống theo quy định của bộ luật hình sự gồm có ba dạng hành vi sau:

     Dạng hành vi thứ nhất, người phạm tội có hành vi đưa ra những thông tin không đúng sự thật và có nội dung xúc phạm tới danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác như đưa tin người khác có hành vi thiếu đạo đức, có hành vi vi phạm pháp luật mặc dù người đó không có hành vi này. Hình thức này đưa ra những thông tin nói trên có thể dưới những dạng khác nhau như truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác...

     Dạng hành vi thứ hai, người phạm tội tuy không đưa ra những thông tin không đúng sự thật và có nội dung xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự, uy tín người khác nhưng đã có hành vi loan truyền tiếp những thông tin này mà người khác đã đưa ra đến người tiếp theo bằng những hình thức khác nhau.

     Dạng hành vi thứ ba, đây là dạng hành vi đặc biệt của hành vi tội vu khống. Người phạm tội có hành vi tố cáo người khác có hành vi phạm trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như công an, hải quan, viện kiểm sát,...mặc dù thực tế người này không có hành vi đó.

  • Mặt chủ quan của tội vu khống

     Lỗi của người thực hiện hành vi theo dạng thứ nhất của người phạm tội là lỗi cố ý. Người phạm tội biết những thông tin mình đưa ra không đúng sự thật nhưng đã thực hiện nhằm xúc phạm danh dự hoặc nhằm gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

     Lỗi của người phạm tội trong dạng hành vi thứ hai là lỗi cố ý. Người phạm tội biết thông tin mà mình loan truyền  là sai sự thật nhưng đã loan truyền nhằm mục đích xúc phạm danh dự hoặc nhằm gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Nếu người phạm tội nhầm tưởng thông tin mình loan truyền là đúng sự thật thì hành vi này không cấu thành tội này.

     Lỗi của người phạm tội trong dạng hành vi thứ ba là lỗi cố ý. Người phạm tội biết rõ người mình tố giác không có hành vi phạm tội nhưng vẫn tố giác họ.  

  • Hình phạt của tội vu khống

     Khung 1: phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm

     Khung 2 : thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm

     Hình phạt bổ sung: còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

     Từ hành vi “lên facebook, đăng tải toàn bộ thông tin công ty em, địa chỉ công ty, mã số thuế, sđt của em, hình ảnh... Và bịa đặt rằng: công ty em nợ tiền và lấy hóa đơn của công ty anh ta” mà bạn cung cấp, chúng tôi có thể tạm nhận định hành vi này là dấu hiệu của tội vu khống. Hành vi của giám đốc đối tác của bạn (tạm thời đặt là anh A) là hành vi đưa những thông tin không có thật và dùng những từ ngữ, hình ảnh xúc phạm tới danh dự nhân phẩm của công ty bạn, của bạn. Đồng thời có hành vi lan truyền thông tin này trên mạng xã hội.

  • Biện pháp xử lý đối với hành vi này của anh A theo quy định pháp luật:

     Trường hợp xử lý đối với hành vi này, tuy rằng đã có dấu hiệu tội phạm, nhưng việc khởi tố hành vi phạm tội này thì vẫn cần phải điều tra xác minh cụ thể, rõ ràng, để không vu oan cho người khác.

     Ngoài ra, nếu như không bị xử lý hình sự thì hình thức xử phạt khác có thể được áp dụng đối với hành vi của anh A là: xử lý vi phạm hành chính theo quy định sau:

  • Điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định số: 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng internet và thông tin trên mạng cấm: “Đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân”.
  • Điểm g khoản 3 Điều 66 Nghị định số:174/2013/NĐ-CP ngày 03/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện. Theo đó, hành vi: “Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác” sẽ bị xử phạt tiền từ: 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

     Hoặc cũng có thể phải phụ thuộc vào hành vi cụ thể, xác minh thiệt hại và những căn cứ rõ ràng mà việc xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự mới được đặt ra, nếu không thì anh A sẽ chỉ bị buộc công khai xin lỗi, phát sinh thiệt hại thì phải bồi thường cho bạn và công ty bạn. Việc xử lý này được thực hiện theo điều 25 Bộ luật dân sự: “Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền tự mình cải chính; yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính công khai; yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại” Tội vu khống

2. Cách giải quyết trong trường hợp của bạn khi có những dấu hiệu khởi tố vụ án hình sự tội vu khống nêu trên    

     Từ những thông tin chúng tôi cung cấp, tư vấn cho bạn ở trên, bạn có thể tiến hành thực hiện theo gợi ý sau để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như của công ty.

  • Cách 1: Gửi văn bản yêu cầu bên anh A (đối tác của bạn) phải đính chính thông tin, công khai xin lỗi bạn và công ty. Nếu xảy ra thiệt hại (thiệt hại trực tiếp từ hành vi đó và thiệt hại này có thể tính toán được mức đền bù) thì yêu cầu anh A bồi thường => Đây là biện pháp thương lượng, giải quyết bước đầu.
  • Cách 2: Gửi đơn trình báo sự việc lên cơ quan công an (cơ quan điều tra) cấp quận, huyện nơi bạn đang sinh sống. Trình báo rõ sự việc, lưu lại các chứng cứ trên mạng xã hội của anh A để cung cấp cho cơ quan công an. Bạn nên nhanh chóng tiến hành theo cách này vì các thông tin trên mạng có thể bị thay đổi, biến đổi sang dạng khác nếu không kịp thời xử lý hành vi đó.

     Lưu ý: trong thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, có thông tin liên quan tới hợp đồng mua bán hàng hóa giữa bạn với bên công ty anh A. Bạn nên xem xét lại kỹ hợp đồng được ký kết giữa hai bên vì chúng tôi nhận thấy bên anh A có hành vi vi phạm hợp đồng, bạn có thể khởi kiện ra tòa đòi bồi thường và đòi lại phần tiền cọc mà bên A đã không trả cho bạn từ những hành vi và bản hợp đồng đã ký kết giữa hai bên.

Bài viết tham khảo:

Liên hệ Luật sư tư vấn về dấu hiệu khởi tố vụ án hình sự tội vu khống:

     Nếu bạn đang gặp vướng mắc về dấu hiệu khởi tố vụ án hình sự tội vu khống mà không thể tự mình giải quyết được, thì bạn hãy gọi cho Luật Sư. Luật Sư luôn sẵn sàng đồng hành, chia sẻ, giúp đỡ, hỗ trợ tư vấn cho bạn về dấu hiệu khởi tố vụ án hình sự tội vu khống. Bạn có thể liên hệ với Luật Sư theo những cách sau.

  • Luật sư tư vấn miễn phí qua tổng đài: 19006500;
  • Tư vấn qua Zalo: Số điện thoại zalo Luật sư: 0931191033;
  • Tư vấn qua Email: Gửi câu hỏi tới địa chỉ Email: [email protected];

     Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn!

     Liên kết ngoài tham khảo:

Tư vấn miễn phí gọi: 1900 6178