Chế độ tài sản vợ chồng có gì khác nhau qua các thời kỳ từ 1959 tới nay

Quy định của pháp luật về tài sản vợ chồng qua các giai đoạn, được thể hiện tại luật Hôn nhân và gia đình 1959, Luật HNGĐ 1986,....

TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG

Chào Luật sư!

Tôi hiện đang tìm hiểu về Luật hôn nhân và gia đình song thấy qua các thời kỳ, chế độ về tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng là không giống nhau. Mong Luật sư có thể giải đáp về những điểm khác nhau giữa tài sản của vợ và chồng. Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Câu trả lời của Luật sư

Chào bạn, Luật Toàn Quốc xin cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về tài sản của vợ chồng, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn về tài sản của vợ chồng như sau:

Căn cứ pháp lý

1. Tài sản của vợ chồng là gì?

Tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng. Tài sản chung là tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp hay những thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân, là những tài sản được thừa kế chung hoặc cho chung. 

Tài sản riêng là tài sản mà vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, cho riêng, là tài sản mà họ có trước khi kết hôn.

Qua các thời kì thì chế độ tài sản của vợ và chồng cũng được pháp luật quy định một cách cụ thể và rõ ràng hơn, dưới đây là một số căn cứ pháp lý

2. Chế độ tài sản của vợ chồng qua các giai đoạn

Mỗi một thời điểm thì chế độ tài sản của vợ và chồng đều được pháp luật quy định một cách cụ thể, có những điểm mới nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật qua từng giai đoạn, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội. Dưới đây là những điểm khác nhau về chế độ tài sản giữa vợ và chồng qua các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Tài sản của vợ chồng

2.1 Chế độ tài sản của vợ, chồng trong luật Hôn nhân và gia đình năm 1959

Trong luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, đạo luật hôn nhân và gia đình đầu tiên của nước ta, về phần tài sản của vợ và chồng được quy định chưa cụ thể. Đây cũng là bởi vì nước ta là một nước non trẻ, đất nước cũng đang trong gia đoạn chống giặc, bởi vậy các quy định của pháp luật thể hiện như là một hạt mầm, sự khởi đầu cho việc phát triển đất nước.

Về tài sản của vợ và chồng trong giai đoạn này cũng không có nhiều điểm. Bởi đây là đạo luật đầu tiên của nước ta về hôn nhân và gia đình nên tài sản của vợ chồng mới được pháp luật quy định đây là tài sản chung. Cụ thể tại điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959

Điều 15

Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới.

Tại thời điểm này, quy định của pháp luật chưa rõ ràng, việc xác định quyền cũng như tài sản vợ chồng vẫn còn khái quát. Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới. Điều này tưởng như là một sự bình đẳng trong hôn nhân nhưng dường như trong đây tồn tại sự lạm dụng. Khi mà tài sản của vợ chồng có trước và sau khi cưới, hai bên đều có sự định đoạt, sử dụng ngang nhau không phân biệt giữa tài sản riêng với tài sản chung thì không đảm bảo được tính sở hữu riêng của mỗi người thuộc tài sản riêng của mình.

Đáng chú ý, tại Điều 28 quy định như sau

Điều 28

Khi ly hôn, cấm đòi trả của.

Tuy vợ chồng có quyền về tài sản ngang nhau, sự định đoạt và sử dụng không bị pháp luật giới hạn nhưng tuy nhiên, khi ly hôn các bên không có quyền đòi lại tài sản. 

Về việc chia tài sản khi ly hôn thì sẽ được căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình, Điều 29

Điều 29

Khi ly hôn, việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình. Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất. Khi chia phải bảo vệ quyền lợi của người vợ, của con cái và lợi ích của việc sản xuất.

Mặc dù trong thời kỳ hôn nhân, vợ và chồng có quyền ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới. Tuy nhiên khi ly hôn, pháp luật quy định về việc chia tài sản thì phụ thuộc vào công sức đóng góp của mỗi bên. Điều này đảm bảo việc phân chia tài sản được công bằng, các bên nhận được tài sản dựa trên công sức mà họ bỏ ra, phát triển kinh tế gia đình.

Như vậy, tại luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, chế độ tài sản giữa vợ và chồng chưa có quá nhiều điểm riêng biệt, tài sản chung các bên có quyền sử dụng và hưởng thụ như nhau, về vấn đề ly hôn thì không có quyền đòi lại tài sản cũng như việc phân chia tài sản dựa trên công sức đóng góp của mỗi bên.

2.2 Chế độ tài sản của vợ và chồng tại luật Hôn nhân và gia đình năm 1986

Tại luật Hôn nhân và gia đình 1986, tài sản của vợ và chồng đã được pháp luật quy định cụ thể hơn, đã có sự phân biệt giữa tài sản chung với tài sản riêng, tuy nhiên điểm này vẫn còn chưa rõ ràng, quy định của pháp luật về tài sản vợ chồng được quy định từ điều 14 đến điều 18 và điều 42

Điều 14

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung.

Đây là một điểm mới so với Luật hôn nhân và gia đình 1959. Tại đây, quy định của pháp luật đã có một điều để định nghĩa khái quát tài sản vợ chồng là gì, bao gồm những gì. Tài sản chung của vợ chồng là những tài sản mà do một trong hai bên tạo ra, là từ những thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân, bao gồm tài sản mà được thừa kế chung hoặc được cho chung. Điều này cũng đã loạt bỏ một vài điểm từ luật Hôn nhân và gia đình 1959. Nếu như trước đây vợ, chồng có quyền ngang nhau trong việc sử dụng tài sản có trước và sau khi cưới thì từ khi pháp luật quy định về tài sản chung, thì phần tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là chủ yếu. Đồng thời tại điều 15 cho đến điều 18 quy định như sau

Điều 15

Tài sản chung được sử dụng để bảo đảm những nhu cầu chung của gia đình. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung. Việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn, và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản mà có giá trị lớn thì phải được sự thoả thuận của vợ, chồng.

Điều 16

Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng.

Điều 17

Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia đôi. Phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế. Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau. Điều 18 Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này.

Bên cạnh đó, điều 42

Điều 42

Khi ly hôn, việc chia tài sản do hai bên thoả thuận, và phải được Toà án nhân dân công nhận. Nếu hai bên không thoả thuận được với nhau thì Toà án nhân dân quyết định.

Việc chia tài sản khi ly hôn, về nguyên tắc, phải theo những quy định dưới đây:

a) Tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên ấy;

b) Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên;

c) Trong trường hợp vợ chồng do còn sống chung với gia đình mà tài sản của bản thân vợ chồng không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình, căn cứ vào công sức của người được chia đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sản chung, cũng như vào đời sống chung của gia đình. Lao động trong gia đình được coi như lao động sản xuất;

d) Khi chia tài sản, phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và của người con chưa thành niên, bảo vệ lợi ích chính đáng của sản xuất và nghề nghiệp.

Mặc dù, tài sản riêng của vợ chồng chưa được phân biệt cụ thể, song tại điều 15 thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung. Việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn, và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản mà có giá trị lớn thì phải được sự thoả thuận của vợ, chồng. Pháp luật quy định vợ, chồng chỉ có quyền ngang nhau đối với tài sản chung. Như vậy, những tài sản riêng thì tài sản của ai thuộc phạm vi của người đấy, không còn chế độ vợ chồng có quyền như nhau đối với việc sử dụng tài sản có trước và sau hôn nhân như tại quy định trong luật Hôn nhân và gia đình năm 1959.

Đối với việc chia tài sản vợ chồng khi ly hôn thì được pháp luật quan tâm đến nhiều hơn. Đã có thêm một số điều để cân bằng trong việc phân chia tài sản, bảo vệ quyền lợi của người vợ cũng như của con chưa thành niên, tài sản được chia đôi nhưng cũng xem xét đến các yếu tố như công sức đóng góp của mỗi bên.

2.3 Chế độ tài sản của vợ chồng trong luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Tại luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, tài sản của vợ chồng được quy định từ điều 24 cho đến điều 33. Tại quy định này, pháp luật đã cụ thể hơn trong việc quy định về trách nhiệm giữa vợ và chồng đối với tiệc sử dụng tài sản chung.

Điều 24. Đại diện cho nhau giữa vợ, chồng

1. Vợ chồng có thể uỷ quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả vợ chồng; việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản.

2. Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Toà án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó.

Điều 25. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện

Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình.

Đồng thời, đối với tài sản chung đã có thêm một điểm mới. Nếu như trong quá trình tranh chấp về tài sản, mỗi bên không có chứng cứ chứng minh tài sản đó là thuộc sở hữu riêng của mình thì tài sản được xem là tài sản chung của vợ chồng. Thêm vào đó, trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu thì tài sản đó phải ghi cả tên vợ và tên chồng. Điều này đảm bảo khi giải quyết tranh chấp tài sản được giải quyết một cách cụ thể, rõ ràng, xác định rõ tài sản của ai, ai có quyền định đoạt tài sản.

Về vấn đề chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân được quy định tại điều 29

Điều 29. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận.

Đây là một điểm kế thừa từ Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959. Pháp luật đã mở rộng phạm vi vợ hoặc chồng được thỏa thuận về vấn đề chia tài sản chung cũng như trách nhiệm đối với việc chia tài sản chung. Việc phân chia tài sản chung được thành lập bằng văn bản trên cơ sở tự nguyện của hai bên. Trong trường hợp thỏa thuận không thành, một trong hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. 

Về chế độ tài sản riêng cũng như quyền về tài sản riêng được quy định điều 32 và điều 33

Điều 32. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

2. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.

Điều 33. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.

2. Vợ, chồng tự quản lý tài sản riêng; trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không uỷ quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng. 5. Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thoả thuận của cả vợ chồng.

Trải qua hai văn bản đó là luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, tại điều 32 luật Hôn nhân và gia đình 2000 đã có một điều quy định về tài sản riêng của vợ và chồng. Khác với quy định tại luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc sử dụng, định đoạt tài sản có trước và sau khi cưới. Tại đây, tài sản riêng là quyền của vợ và chồng. Đó là tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. 

2.4 Chế độ tài sản của vợ và chồng trong luật Hôn nhân và gia đình 2014

Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 33 đến Điều 46 và từ Điều 59 đến Điều 64.

Trong luật Hôn nhân và gia đình 2014, pháp luật đã quy định rõ ràng hơn những trường hợp khi định đoạt tài sản chung bắt buộc phải có sự thỏa thuận giữa vợ và chồng bằng văn bản

Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

Tại luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng có một số điểm mới như thời điểm có hiệc lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hay như là những trường hợp bị vô hiệu khi chia tài sản chung, cụ thể

Điều 39. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.

2. Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.

3. Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

4. Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Điều 40. Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.

2. Thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.

Điều 41. Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Hình thức của thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 38 của Luật này.

2. Kể từ ngày thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này có hiệu lực thì việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 33 và Điều 43 của Luật này. Phần tài sản mà vợ, chồng đã được chia vẫn thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

3. Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

4. Trong trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thì thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung phải được Tòa án công nhận.

Điều 42. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu

Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

2. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;

b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;

d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;

đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;

e) Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Ngoài ra, luật Hôn nhân và gia đình 2014 còn có một điểm mới đó là vợ và chồng có quyền lựa chọn chế độ tài sản và điều này phải được lập trước khi kết hôn. Điều 47 đến điều 50 luật Hôn nhân và gia đình 2014

Điều 47. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng

Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Điều 48. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

1. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm:

a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;

b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;

c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;

d) Nội dung khác có liên quan.

2. Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định.

Điều 49. Sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

1. Vợ chồng có quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về chế độ tài sản.

2. Hình thức sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản theo thỏa thuận được áp dụng theo quy định tại Điều 47 của Luật này.

Điều 50. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;

b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;

c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình.

2. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn khoản 1 Điều này.

Tài sản của vợ chồng

     KẾT LUẬN: Luật Hôn nhân và gia đình qua các giai đoạn đang được dần hoàn thiện, quy định về chế độ tài sản giữa vợ và chồng được nhà nước đặc biệt quan tâm, rõ ràng, cụ thể, đảm bảo các bên khi thực hiện, xác lập, giao dịch liên quan đến tài sản được dễ dàng, phù hợp với quy định của pháp luật.

Dịch vụ hỗ trợ khách hàng miễn phí về tài sản của vợ chồng:

  • Tư vấn qua điện thoại: Đây là hình thức tư vấn được nhiều khách hàng sử dụng nhất vì nó giải quyết vấn đề tài sản chung của bạn rất nhanh cho dù bạn ở bất cứ đâu vào bất cứ thời gian nào đều có thể gọi điện cho Luật Toàn Quốc. Chỉ sau một vài câu hỏi của Luật Sư vấn đề của bạn sẽ được giải quyết.
  • Tư vấn qua Email: Nếu bạn thấy quy định pháp luật về tài sản chung chưa quá cấp thiết và bạn vẫn muốn tìm hiểu thêm hoặc bạn còn nhiều băn khoăn thì bạn có thể gửi Email cho Luật Toàn Quốc, chúng tôi sẽ biên tập và trả lời qua Email cho bạn, tuy nhiên việc trả lời qua Email sẽ mất nhiều thời gian hơn vì vậy nếu cần bạn vẫn có thể gọi cho Luật Toàn Quốc để được tư vấn nhanh hơn.
  • Tư vấn trực tiếp: Thường là những khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ trực tiếp từ Luật Toàn Quốc sẽ sử dung hình thức này và thường là một dich vụ cụ thể, hoặc một vụ việc rất phức tạp. Tuy nhiên nếu bạn ở xa việc tư vấn trực tiếp sẽ gặp nhiều khó khắn vì vậy bạn có thể gọi điện thoại để trao đổi với Luật Sư trước để Luật sư có thêm thời gian tìm hiểu về vấn đề của bạn để khi gặp trực tiếp có thể giải quyết được nhanh triệt để vấn đề đó.

     Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./.

Bài viết tham khảo:

Chuyên viên: Việt Anh