Tin nhắn có được xem là chứng cứ theo quy định của BLTTHS 2015

Tin nhắn có được xem là chứng cứ theo quy định của BLTTHS 2015, tin nhắn gọi chung là ( dữ liệu điện tử) cũng có thể được coi là một chứng cứ...

Tin nhắn có được xem là chứng cứ theo quy định của BLTTHS 2015

Câu hỏi của  bạn:

Xin chào Luật sư
     Tôi có một câu hỏi mong luật sư giúp đỡ. Tôi bị một người nhắn tin đe dọa giết. Vậy tin nhắn người đó gửi cho tôi có được xem là chứng cứ để tôi làm đơn đề nghị khởi tố họ hay không?

Câu trả lời của Luật sư:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Phòng tư vấn luật qua email- Luật Toàn quốc. Chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau: 

Căn cứ pháp lý:

Nội dung trả lời: Tin nhắn có được xem là chứng cứ theo quy định của BLTTHS 2015

Theo Điều 87. Nguồn chứng cứ

1. Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:

a) Vật chứng;

b) Lời khai, lời trình bày;

c) Dữ liệu điện tử;

d) Kết luận giám định, định giá tài sản;

đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;

e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;

g) Các tài liệu, đồ vật khác.

2. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.

Tin nhắn có được xem là chứng cứ

Tin nhắn có được xem là chứng cứ

     Như vậy theo quy định của pháp luật thì chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

     Theo quy định hiện hành tin nhắn, Email là một dạng Thông điệp dữ liệu (Điều 10 Luật Giao dịch điện tử 2005)

Điều 10. Hình thức thể hiện thông điệp dữ liệu
    Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác.

 Cũng theo Luật này:

Điều 11. Giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu

Thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu. 

     Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã bổ sung “dữ liệu điện tử” là một nguồn chứng cứ, có giá trị như các nguồn chứng cứ khác. Loại chứng cứ mới này đang ngày càng phổ biến, xuất hiện trong hầu hết các loại tội phạm, thậm chí trong nhiều vụ án chỉ thu được dữ liệu điện tử làm chứng cứ. Việc bổ sung “dữ liệu điện tử” là một nguồn chứng cứ đáp ứng yêu cầu cấp bách hiện nay và hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam cũng như có căn cứ về khoa học, công nghệ.

     Từ những quy định trên có thể thấy tin nhắn gọi chung là ( dữ liệu điện tử) cũng có thể được coi là một chứng cứ trong quá trình điều tra vụ án hình sự. Tuy nhiên dữ liệu điện tử này chỉ được xem là chứng cứ khi nó đáp ứng các điều kiện sau: 

  • Tính khách quan: Dữ liệu này có thật, tồn tại khách quan, có nguồn gốc rõ ràng, không bị làm cho sai lệnh, biến dạng, đã được tìm thấy và đang lưu trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng, USB, ổ cứng di động, đĩa quang, email, website, điện toán đám mây, account, nickname của đối tượng, server của nhà cung cấp dịch vụ internet…
  • Tính hợp pháp: Chứng cứ phải được thu thập đúng luật, trong cả quá trình khám xét, thu giữ vật chứng, sử dụng công nghệ được cơ quan pháp luật công nhận, để sao lưu dữ liệu, bảo quản, phục hồi, phân tích, tìm kiếm và giám định dữ liệu làm chứng cứ. Cơ quan điều tra phải thu thập theo đúng thủ tục tố tụng hình sự: Máy tính, máy điện thoại, email, USB, đĩa CD/DVD, dữ liệu thu từ máy chủ, chặn thu trên đường truyền… phải được ghi vào biên bản, niêm phong theo đúng qui định, không bị tác động làm thay đổi dữ liệu kể từ khi thu giữ hợp pháp và không thể can thiệp để thay đổi. Chuyên gia phục hồi dữ liệu sử dụng công nghệ và phần mềm phục hồi dữ liệu, như thiết bị chống ghi (Read Only sao chép dữ liệu và chỉ sử dụng bản sao này để phục hồi, phân tích, tìm kiếm dữ liệu, chuyển thành dạng đọc được, nghe được, nhìn thấy được.
  • Tính liên quan của chứng cứ: Dữ liệu thu được có liên quan đến hành vi phạm tội, được sử dụng để xác định các tình tiết của vụ án. Tính liên quan thể hiện ở nguyên lý, công nghệ hình thành dấu vết điện tử, thông tin về không gian, thời gian hình thành dữ liệu (logfile, IP, siêu dữ liệu, hàm hash), địa chỉ lưu trữ, nội dung dữ liệu chứa thông tin về đối tượng, hành vi phạm tội, nơi hoạt động của đối tượng, cookies truy cập, nguồn gốc và nội dung email, chat, tin nhắn, công nghệ thanh toán thẻ, nạn nhân, thiệt hại…

     Như vậy với tin nhắn đe dọa mà bạn hỏi ở trên, bạn hoàn toàn có thể cung cấp những tin nhắn đó cho cơ quan công an, để cơ quan điều tra dựa vào đó làm chứng cứ nhằm mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi đe dọa sẽ giết người theo quy định cảu pháp luật

     Trên đây là ý kiến tư vấn pháp luật của chúng tôi. Nếu còn bất cứ vướng mắc nào, bạn vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn luật hình sự miễn phí 24/7 : 19006500 để gặp trực tiếp luật sư tư vấn và  để  yêu cầu  cung cấp dịch vụ. Hoặc Gửi nội dung tư vấn qua email: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của bạn. Chúng tôi luôn mong nhận được ý kiến đóng góp của anh chị để chúng tôi ngày càng trở lên chuyên nghiệp hơn.

     Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của anh; chị.

     Trân trọng ./.

     Liên kết ngoài tham khảo: