Phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định của BLHS 2015

Phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định của BLHS 20153.7 (73.33%) 3 votes Xem mục lục của bài viết1 Phạm tội trộm cắp tài sản2 Câu hỏi về phạm tội trộm cắp tài sản3 Câu trả lời về phạm tội trộm cắp tài sản3.1 1. Căn cứ pháp lý về phạm tội trộm […]

Phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định của BLHS 2015
3.7 (73.33%) 3 votes

Phạm tội trộm cắp tài sản

Câu hỏi về phạm tội trộm cắp tài sản

     Xin chào luật sư. Luật sư cho tôi hỏi nếu người trộm cắp tài sản có phải chịu trách nhiệm hình sự không ạ? Mong sớm nhận được câu trả lời từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu trả lời về phạm tội trộm cắp tài sản

     Chào bạn, Luật Toàn Quốc cảm ơn bạn đã tin tưởng và đưa câu hỏi tư vấn về phạm tội cắp tài sản. Chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn về phạm tội trộm cắp tài sản như sau:

1. Căn cứ pháp lý về phạm tội trộm cắp tài sản

2. Nội dung pháp lý về phạm tội trộm cắp tài sản

     Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, một trong số các hệ lụy là tỉ lệ tệ nạn xã hội cũng ngày một tăng nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Đáng nói nhất là nạn trộm cắp, cướp giật. Trên thực tế, để kiểm soát, hạn chế hoặc giảm thiểu hành vi vi phạm pháp luật hình sự tội trộm cắp tài sản cần phải có sự tham gia của toàn thể xã hội, toàn thể tổ chức, cá nhân. Luật Toàn Quốc xin được tư vấn về trường hợp này như sau:

2.1. Khái niệm về tội trộm cắp tài sản

     Trộm cắp tài sản là hành vi lấy trộm, lấy cắp của cải của người khác một cách lén lút. Tội trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi, để thực hiện những hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách lén lút, trái pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu của con người.

2.2. Cấu thành tội phạm trộm cắp tài sản

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

…”

Để cấu thành tội trộm cắp tài sản thì người phạm tội phải đảm bảo đủ 4 dấu hiệu sau:

  • Chủ thể về tội trộm cắp tài sản:

     Chủ thể của tội phạm trộm cắp tài sản là chủ thể thường, là bất cứ ai có năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi theo quy định tại điều 12 BLHS 2015. Đó là những người đạt từ đủ 14 tuổi trở lên thực hiện, không thuộc trường hợp mất năng lực hình sự như người mắc bệnh tâm thần, mắc các bệnh khác làm ảnh hưởng đến khả năng nhận thức và điều khiển hành vi (như: viêm màng não, bệnh mộng du…). Tuy nhiên, những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu về những tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

  • Khách thể về tội trộm cắp tài sản: Tội phạm xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản của con người. Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản.
  • Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản:

     – Người phạm tội phải có lỗi. Căn cứ vào tên tội danh, hành vi khách quan thì chúng ta có thể thấy đây là hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Lỗi cố ý trực tiếp là trường hợp người phạm tội biết được hành vi của mình và thấy được hậu quả trộm cắp tài sản có thể xảy ra, nhưng mong muốn nó xảy ra nên đã thực hiện hành vi phạm tội đó.

     – Mục đích phạm tội: Vụ lợi nhằm chiếm đoạt tài sản. Đây là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Bởi lẽ, chỉ khi có mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác thì người đó mới tiến hành hành vi trộm cắp.

     – Thủ đoạn: Thực hiện một cách lén lút, bí mật. Đây cũng là dấu hiệu bắt bắt buộc của tội phạm này.

  • Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản:

     – Hành vi khách quan: Trong thực tế, hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi hành động, lấy tài sản của người khác một cách lén lút, bí mật để chiếm được tài sản mà người khác đang quản lý. Hành vi lén lút ở đây vừa là đặc điểm khách quan của hành vi, vừa là chỉ ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi đó. Ý thức lén lút ở đây có thể là che giấu toàn bộ hành vi của mình ( che giấu với chủ tài sản đó) hoặc chỉ che giấu phần hành vi trái pháp luật (lợi dụng lúc chủ nhà đi vắng, xâm nhập trái phép vào nhà ở của họ để lấy cắp tài sản). Vì vậy, chỉ cần xác định người phạm tội có hành vi lén lút, che giấu hành vi lấy tài sản của mình (thành công hoặc không thành công) thì có thể định tội trộm cắp tài sản. Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội lấy và chuyển tài sản khỏi nơi cất giữ. 

     – Hậu quả: gây hậu qủa nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, tài sản. Hành vi đó có thể làm chết người; gây thương tích, tổn hại sức khỏe với tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên; gây hậu quả nghiêm trọng về tài sản; ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội;…

     – Mối quan hệ giữa hành vi khách quan với hậu quả: Đây là mối quan hệ nhân quả. Chỉ khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mới gây ra hậu quả nghiêm trọng này.

Phạm tội trộm cắp tài sản

                                                   Phạm tội trộm cắp tài sản

2.3. Hình phạt đối với tội phạm trộm cắp tài sản

     Theo quy định tại điều 173 BLHS 2015 thì hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản như sau:

  • Khoản 1 quy định khung hình phạt cơ bản đối với loại tội phạm này là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Áp dụng đối với trường hợp trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau: 

    – Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.

    – Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội sau, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm: Tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

    – Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

    – Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

    – Tài sản là di vật, cổ vật. 

  • Khoản 2 quy định về khung hình phạt tăng nặng: phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Áp dụng với một trong các tình tiết định khung tăng nặng sau:

    – Có tổ chức. Đây là trường hợp phạm tội có tính chất đồng phạm, có sự kết hợp chặt chẽ giữa những người đồng phạm.

    – Có tính chất chuyên nghiệp. Đây là trường hợp phạm tội liên tiếp (từ 5 lần trở lên) và coi tội phạm này là nguồn thu nhập chính.

    – Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

    – Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm. Đây là trường hợp người phạm tội sử dụng những thủ đoạn tinh vi để dễ dàng chiếm đoạt tài sản. Ví dụ như tháo trộm các thiết bị quan trọng của máy móc.

    – Hành hung để tẩu thoát. Đây là trường hợp gây thương tích cho người phát hiện, chống trả lại việc bắt giữ để chạy thoát.

    – Trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

    – Tài sản là bảo vật quốc gia.

         – Tái phạm nguy hiểm. Đây là trường hợp phạm tội đã đảm bảo các dấu hiệu của tái phạm nguy hiểm. Theo điều 53 của BLHS 2015, các trường hợp được coi là tái phạm nguy hiểm bao gồm:

        + Đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng do cố ý, chưa xóa án tích nhưng lại thực hiện tiếp những hành vi phạm tội có tính chất như trên.

       + Đã tái phạm, chưa xóa án tích nhưng mà thực hiện những hành vi phạm tội do cố ý.

  • Khoản 3 quy định về khung hình phạt tăng nặng thứ 2 với mức phạt từ từ 7 năm đến 15 năm. Áp dụng cho các trường hợp sau: 

    – Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

    – Trộm cắp tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

    – Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. Đây là trường hợp người phạm tội đã lợi dung khi có thiên tai, dịch bệnh để thực hiện tội phạm.

  • Khoản 4 quy định về khung hình phạt thứ 3 với mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Áp dụng cho các trường hợp sau:

    – Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

    – Trộm cắp tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

    – Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. Đây là trường hợp chủ thể đã lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp khi thực hiện tội phạm này.

  • Khoản 5 quy định về hình phạt bổ sung: Chủ thể phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

     Kết luận: Tóm lại, một người chỉ bị kết tội trộm cắp tài sản khi đảm bảo đủ 4 yếu tố về chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan như đã nêu trên. Nếu không đảm bảo 4 yếu tối này thì người đó sẽ không bị kết án với tội trộm cắp tài sản và chịu hình phạt theo điều 173 BLHS 2015.

Bài viết tham khảo:

      Để được tư vấn chi tiết về vấn đề Phạm tội trộm cắp tài sản, quý khách vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật Hình sự: 19006500 để được tư vấn chi tiết hoặc gửi câu hỏi về email: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

     Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./.

                                                                                                                                               Chuyên viên: Kiều Trinh