Khám nghiệm hiện trường theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015

                 KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015 Câu hỏi của bạn:       Thưa luật sư, luật sư cho tôi hỏi: Khám nghiệm hiện trường theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Tôi xin […]

                 KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015

Câu hỏi của bạn:

      Thưa luật sư, luật sư cho tôi hỏi: Khám nghiệm hiện trường theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Tôi xin cảm ơn! Mong nhận được câu trả lời từ luật sư.

       Câu trả lời của luật sư:

        Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Phòng tư vấn luật qua email- Luật toàn quốc. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin đưa ra quan điểm như sau:

      Căn cứ pháp lý:

     Nội dung tư vấn: Khám nghiệm hiện trường theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

     Căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có quy định: 

      Tại điều 201. Khám nghiệm hiện trường

  1. Điều tra viên chủ trì tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án.
  2. Trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát biết thời gian, địa điểm tiến hành khám nghiệm để cử Kiểm sát viên kiểm sát khám nghiệm hiện trường. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường.

Khi khám nghiệm hiện trường phải có người chứng kiến, có thể cho bị can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng tham gia và mời người có chuyên môn tham dự việc khám nghiệm.

3. Khi khám nghiệm hiện trường phải tiến hành  chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô hình; xem xét tại chỗ và thu lượm dấu vết của tội phạm, tài liệu, đồ đạc có liên quan đến vụ án; ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản. Biên bản khám nghiệm hiện trường được lập theo quy định tại điều 178 của Bộ luật này.

Trường hợp không thể xem xét ngay được thì tài liệu, đồ vật thu giữ phải được bảo quản, giữ nguyên trạng hoặc niêm phong đưa về tiến hành điều tra.

      1.Định nghĩa khám nghiệm hiện trường.

        Khám nghiệm hiện trường là biện pháp điều tra là biện pháp điều tra được tiến hành tại hiện trường nhằm phát hiện, thu lượm, ghi nhận bảo quản nghiên cứu đánh giá dấu vết, vật chứng của các vụ phạm tội hoặc vụ việc có tính chất hình sự đã xảy ra.

      Như vậy, dựa vào định nghĩa của khám nghiệm hiện trường thì thấy mục đích của khám nghiệm hiện trường là nhằm phát hiện, thu lượm, ghi nhận bảo quản nghiên cứu đánh giá dấu vết, vật chứng của các vụ phạm tội hoặc vụ việc có tính chất hình sự xảy ra.

2. Thẩm quyền tiến hành khám nghiệm hiện trường

       Tại khoản 1 có quy định: “ Điều tra viên chủ trì tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra..” Do vậy, việc khám nghiệm hiện trường do trực tiếp điều tra viên thực hiện. Việc quy định thẩm quyền tiến hành khám nghiệm hiện trường cho cơ quan điều tra là hoàn toàn phù hợp với bản chất nhiệm vụ cơ quan này. Hoạt động điều tra là hoạt động củng cố, điều tra và thu thập chứng cứ nhằm tìm ra sự thật khách quan nhất trong việc phòng chống tội phạm. Điều tra viên là người nắm rõ hồ sơ, giấy tờ trực tiếp của vụ án cho nên việc quy định này là hoàn toàn phù hợp.

Khám nghiệm hiện trường

                       Khám nghiệm hiện trường

3. Trình tự, thủ tục tiến hành khám nghiệm hiện trường.

       Trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát biết thời gian, địa điểm tiến hành khám nghiệm để cử Kiểm sát viên kiểm sát khám nghiệm hiện trường. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường. Nhà làm luật quy định vậy bởi Kiểm sát viên đại diện cho việc kiểm soát hoạt động tuân theo pháp luật của các điều tra viên.

     Khi khám nghiệm hiện trường phải có người chứng kiến, có thể cho bị can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng tham gia và mời người có chuyên môn tham dự việc khám nghiệm.

     Khi khám nghiệm hiện trường phải tiến hành  chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô hình; xem xét tại chỗ và thu lượm dấu vết của tội phạm, tài liệu, đồ đạc có liên quan đến vụ án; ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản. Biên bản khám nghiệm hiện trường được lập theo quy định tại điều 178 của Bộ luật này.

     Trường hợp không thể xem xét ngay được thì tài liệu, đồ vật thu giữ phải được bảo quản, giữ nguyên trạng hoặc niêm phong đưa về tiến hành điều tra.

4. Điểm mới về quy định về khám nghiệm hiện trường trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 so với Bộ luật tố tụng hình sự 2003.

      Thứ nhất, quy định dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ để Cơ quan điều tra tiến hành để phát hiện ra dấu vết của tội phạm, làm sáng rõ các tình tiết của vụ án. 

      Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ

     Điều 87. Nguồn chứng cứ

“1. Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:

a) Vật chứng;

b) Lời khai, lời trình bày;

c) Dữ liệu điện tử;

d) Kết luận giám định, định giá tài sản;

đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;

e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;

g) Các tài liệu, đồ vật khác.

2. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự”

     Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử. Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác. Khi tiến hành khám nghiệm hiện trường về các tội phạm hoạt động trong lĩnh vực internet, công nghệ cao…thì điều tra viên cũng phải thu thập dữ liệu điện tử.

     Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định cụ thể các biện pháp được áp dụng trong tố tụng hình sự bao gồm: ghi âm, ghi hình bí mật, nghe điện thoại bí mật, thu thập bí mật dữ liệu điện tử, quy định chặt chẽ các trường hợp áp dụng chỉ đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy , tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền …

     Như vậy quy định về khám nghiệm hiện trường BLTTHS 2015 có nhiều quy định tiến bộ, thể chế hóa đầy đủ các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Hiến pháp năm 2013, tăng cường hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

     Quy định như vậy có ý nghĩa nhất là với sự phát triển của khoa học, công nghệ như ngày nay. Tội phạm xâm phạm an ninh mạng ngày càng có xu hướng gia tăng với nhiều thủ đoạn tấn công, xâm nhập mạng, lấy cắp, phá hoại dữ liệu, đưa thông tin nhạy cảm trái phép lên mạng, gian lận thẻ ngân hàng, lừa đảo qua mạng… đang ngày càng trở nên phổ biến.

      Thứ hai, quy định rõ hơn nhiệm vụ trực tiếp tiến hành khám nghiệm hiện trường là Điều tra viên ”  Điều tra viên chủ trì để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án “. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định chưa cụ thể việc tiến hành khám nghiệm hiện trường được tiến hành trực tiếp bởi Điều tra viên. Điều 150 của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định : ” 1. Điều tra viên tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm, vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án “. Ngoài ra cũng thay từ chữ “nhằm phát hiện” sang chữ ” để phát hiện” theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự 2015 để từ đó nhấn mạnh mục đích chính của hoạt động khám nghiệm hiện trường.

      Ngoài ra, bạn có thể tham khảo thêm bài viết:

      Để được tư vấn chi tiết về khám nghiệm hiện trường, quý khách vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật hình sự 24/7: 19006500 để được tư vấn chi tiết hoặc gửi câu hỏi về Email: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

     Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./.