Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài sản mới nhất

Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài sản mới nhất5 (100%) 1 vote Xem mục lục của bài viết1 Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài sản2 Câu hỏi về Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài sản3 Câu trả lời về Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài […]

Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài sản mới nhất
5 (100%) 1 vote

Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài sản

Câu hỏi về Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài sản

     Thưa Luật sư, vào ngày 8 – 3 – 2010, tôi có cho ông B vay một số tiền lớn, hai bên có ký hợp đồng vay có lãi thời hạn là 4 năm, hiện nay, đã đến kỳ hạn nhưng ông B vẫn chưa trả, Luật sư cho tôi hỏi tiền lãi tôi nhận được sẽ được áp dụng cách tính lãi theo văn bản pháp luật nào?

     Mong Luật sư giải đáp!

     Xin chân thành cảm ơn!

Câu trả lời về Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài sản

     Chào bạn, Luật Toàn Quốc cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài sản, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn về Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài sản theo quy định của pháp luật như sau:

1. Cơ sở pháp lý về Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài sản

2. Nội dung về Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài sản

     Thưa quý khách hàng, theo thông tin bạn đã cung cấp chúng tôi nhận thấy đây là trường hợp thuộc tranh chấp hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng vay tín dụng. Theo đó chúng tôi xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài sản mới nhất năm 2019

Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài sản 

     Với trường hợp của bạn thì đây là hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng được xác lập trước ngày 01-01-2017 (ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 bắt đầu có hiệu lực) thì việc áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất xác định như sau:

     Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định về hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng được xác lập trước ngày 01-01-2017 đang được thực hiện, trong đó, hợp đồng đang được thực hiện là hợp đồng mà các bên chưa thực hiện xong quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng mà pháp luật có quy định.

     Một là, Đối với hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

     Hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết.

     Theo khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP quy định hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng có lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hướng dẫn tại khoản 1 Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Mức lãi suất thỏa thuận không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Ví dụ: Ngày 20-01-2016, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 100.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 18%/năm. Mức lãi suất 18%/năm không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên thỏa thuận này phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Lãi, lãi suất theo thỏa thuận được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhưng không được pháp luật trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành quy định. Ví dụ : Ngày 20-01-2016, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 100.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 18%/năm, lãi trên nợ lãi theo mức lãi suất là 0,1%/năm. Thỏa thuận lãi trên nợ lãi là nội dung không được Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định nhưng được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nên thỏa thuận lãi trên nợ lãi là phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Lãi, lãi suất, được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhưng pháp luật trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành quy định khác. Ví dụ : Ngày 20-01-2016, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 100.000.000 đồng không có lãi, thời hạn vay là 03 năm. Trường hợp các bên không có thỏa thuận về việc trả lãi đối với nợ gốc quá hạn thì việc tính lãi đối với nợ gốc quá hạn chưa trả từ ngày tiếp theo của ngày đến hạn trả nợ (ngày 21-01-2019) là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

     Như vậy, các trường hợp không thuộc các trường hợp trên đây thì được coi là không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

     Hai là, Hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

     Hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc áp dụng pháp luật để xác định lãi, lãi suất như sau:

  • Đối với khoảng thời gian trước ngày 01-01-2006 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, Nghị quyết ngày 28-10-1995 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995.
  • Đối với khoảng thời gian từ ngày 01-01-2006 đến trước ngày 01-01-2017 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005.
  • Đối với khoảng thời gian từ ngày 01-01-2017 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015.

     Ví dụ: Ngày 01-01-2003, ông A cho bà B vay 100.000.000 đồng (hợp đồng vay không kỳ hạn), lãi suất thỏa thuận là 18%/năm. Ngày 01-01-2018, ông A khởi kiện yêu cầu bà B trả gốc và lãi theo hợp đồng. Trường hợp này, từ ngày 01-01-2003 đến trước ngày 01-01-2006, Tòa án áp dụng Điều 473 của Bộ luật Dân sự năm 1995 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995 để xác định lãi, lãi suất; từ ngày 01-01-2006 đến trước ngày 01-01-2017, Tòa án áp dụng Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 để xác định lãi, lãi suất; kể từ ngày 01-01-2017 đến thời điểm xét xử sơ thẩm, Tòa án áp dụng Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.

     Tóm lại, để xác định cụ thể phương thức tính lãi theo văn bản pháp luật nào? thì bạn phải xác định xem lãi, lãi suất mà hai bên thỏa thuận trước đó có phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hay không để áp dụng đúng các trường hợp nêu trên. Giả sử, lãi, lãi suất mà hai bên thỏa thuận trước đó phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì phương thức tính lãi, lãi suất sẽ được áp dụng như sau: Từ ngày 08-03-2010 đến trước ngày 01-01-2017, Tòa án áp dụng Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 để xác định lãi, lãi suất; kể từ ngày 01-01-2017 đến thời điểm xét xử sơ thẩm, Tòa án áp dụng Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.

     Bài viết tham khảo:

     Để được tư vấn về Quy định về lãi trong hợp đồng vay tài, quý khách vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật doanh nghiệp 19006500 để được tư vấn chi tiết hoặc gửi câu hỏi về Email: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

       Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./ 

Chuyên viên: Nguyễn Nam