Phân chia di sản thừa kế của chồng

Vote Xem mục lục của bài viết1 PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ 2 Câu hỏi của bạn về phân chia di sản thừa kế: 3 Câu trả lời của Luật sư về phân chia di sản thừa kế:3.1 1.Căn cứ pháp lý về phân chia di sản thừa kế :3.2 2.  Nội dung tư vấn về phân […]

PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ

Câu hỏi của bạn về phân chia di sản thừa kế: 

     Luật sư cho tôi hỏi: Kính thưa Luật sư, tôi xin hỏi Luật sư một việc như sau. Có một trường hợp 1 gia đình sống chung với nhau đã được nhà nước công nhận là vợ chồng, sau một thời gian do bệnh tật thì ông chồng chết, về sau
bà vợ này muốn đi bước nữa, thì bố chồng đòi con dâu phải chia tài sản của con trai mình đã gây được cho ông một phần. Vậy giải quyết như thế nào cho đúng với Pháp luật, và đạo đức.

Câu trả lời của Luật sư về phân chia di sản thừa kế:

     Chào bạn, Luật Toàn Quốc cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về phân chia di sản thừa kế, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn về phân chia di sản thừa kế như sau:

1.Căn cứ pháp lý về phân chia di sản thừa kế :

2.  Nội dung tư vấn về phân chia di sản thừa kế

     Theo yêu cầu tư vấn của bạn, bạn cần chúng tôi hỗ trợ về phân chia di sản thừa kế. Đối với câu hỏi trên, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau: 

     Tài sản sau khi người chồng mất được dùng để chia thừa kế phải là tài sản riêng của chồng, các tài sản này bao gồm: Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân……

     Tài sản chung của vợ chồng gồm: Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

     Phần được coi là tài sản chung sau khi người chồng mất về nguyên tắc được chia đôi có tính đến các yếu tố sau: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

     Như vậy, tài sản của người chồng được để lại làm di sản sẽ bao gồm phần tài sản trong tài sản chung của vợ chồng được chia theo nguyên tắc chia đôi như trên cộng với khối tài sản riêng khác của chồng. Các tài sản được xác định là di sản sẽ được phân chia theo các trường hợp dưới đây.

Phân chia di sản thừa kế

2.1. Phân chia di sản thừa kế theo di chúc

     Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc phân chia di sản thừa kế có thế được chia theo di chúc và theo pháp luật. Trong đó, ý chí của người để lại thừa kế được ưu tiên làm căn cứ nên trường hợp có di chúc hợp pháp thì di sản sẽ được chia theo di chúc. Di chúc được coi là hợp pháp khi cố đủ các điều kiện sau: 

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

     Tuy nhiên, trong trường hợp của bạn, người vợ và bố chồng đều thuộc trường hợp người thừa kế không phục thuộc vào nội dung di chúc. Do đó, nếu người chồng có để lại di chúc hợp pháp thì tài sản được phân chia theo di chúc và ngay cả trong trường hợp di chúc không ghi nhận việc để lại tài sản cho vợ và bố chồng hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật, thì hai người vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật. 

2.2 Chia thừa kế theo pháp luật

     Như đã phân tích ở trên pháp luật luôn ưu tiên ý chí của người để lại di sản, nếu di chúc họp pháp thì tài sản sẽ được phân chia theo di chúc. Trường hợp được phân chia theo pháp luật chỉ xảy ra khi:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

     Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

     Khi chia di sản theo pháp luật thì di sản sẽ được phân chia theo hàng thừa kế và trình tự thừa kế theo quy định tại Điều 651, Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. 

     Như vậy, phần tài sản riêng của chồng được coi là di sản sẽ được phân chia theo di chúc, nếu di chúc không để lại hoặc để lại phần di sản ít hơn 2/3 suất thừa kế theo pháp luật cho vợ và bố chồng thì hai người vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật.

     Nếu không có di chúc hợp pháp thì di sản được chia đều theo pháp luật cho những người thừa kế theo các hàng thừa kế theo cách chia đều cho tất cả những người thừa kế cùng hàng và chia theo thứ tự từ hàng thừa kế thứ nhất. Điều này có nghĩa là bước đầu bạn sẽ phải xác định những người nào thuộc hàng thừa kế thứ nhất( vợ, con, chồng….), lấy tổng di sản chia đều cho số người có quyền được hưởng sẽ ra phần thừa kế theo pháp luật mà mỗi ngời được hưởng; nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản thì mới tiếp tục xác định những người được hưởng di sản tại hàng thừa kế thứ hai và chia. 

Kết luận: Trong trường hợp người chồng đã mất mà bố chồng muốn được phân chia một phần tài sản của con trai mình trước đây là hoàn toàn hợp pháp. 

Bài viết tham khảo:

     Để được tư vấn chi tiết yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn quý khách vui lòng liên hệ tới  Tổng đài tư vấn pháp luật hôn nhân 19006500 để được tư vấn chi tiết hoặc gửi câu hỏi về  Email:lienhe@luattoanquoc.comChúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

     Luật Toàn Quốc  xin chân thành cảm ơn./.

Chuyên viên: Tú Anh