Phân chia di sản có thời điểm mở thừa kế trước năm 1990

Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện chia di sản, đối tượng thuộc quyền hưởng di sản, phân chia di sản có tài sản là nhà ở

CHIA DI SẢN CÓ TÀI SẢN LÀ NHÀ Ở

Câu hỏi của bạn về chia di sản có tài sản là nhà ở

Thưa luật sư, tôi có vấn đề cần được giải đáp như sau. Cha tôi mất năm 1975 và không có di chúc. Có để lại một mảnh đất là căn nhà đang sinh sống. Căn nhà trên thuộc quyền sở hữu của bố và mẹ tôi. Hiện tại tôi và mẹ cùng với em trai đang sinh sống tại đây. Liệu tôi có thể yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế là căn nhà được không? Xin trân trọng cảm ơn Luật sư.

Câu trả lời của Luật sư về chia di sản có tài sản là nhà ở

Luật Toàn Quốc cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn về chia di sản có tài sản là nhà ở, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn về chia di sản có tài sản là nhà ở như sau

1. Căn cứ pháp lý về chia di sản có tài sản là nhà ở

2. Nội dung tư vấn về chia di sản có tài sản là nhà ở

Pháp luật quy định, cá nhân, tổ chức có quyền hưởng di sản. Để việc phân chia di sản được thực hiện kịp thời, Bộ Luật dân sự 2015 đã có những quy định mới, bổ sung một số điều để đảm bảo quyền được nhận di sản của cá nhân, tổ chức. Dưới đây là một số căn cứ pháp lý liên quan đến việc phân chia di sản có tài sản là nhà ở.

2.1 Quy định của pháp luật về loại hình thừa kế di sản

Theo quy định của pháp luật, cá nhân, tổ chức là đối tượng được hưởng di sản. Hiện nay, pháp luật quy định có hai loại hình đó là:

  • Thừa kế theo di chúc
  • Thừa kế theo pháp luật
2.1.1 Thừa kế theo di chúc

Khái niệm: Tại Điều 624 Bộ luật dân sự 2015, di chúc được hiểu như sau:

Điều 624. Di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

     Như vậy, thừa kế theo di chúc là việc cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tuy nhiên, việc lập di chúc phải hợp pháp, có nghĩa là việc lập di chúc phải tuân theo quy định của pháp luật, nhằm bảo về quyền và lợi ích của người thuộc diện được pháp luật quy định hưởng tài sản của người khác sau khi chết và bảo đảm năng lực dân sự của người lập di chúc.

Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Ngoài ra, việc lập di chúc còn được thể hiện qua di chúc miệng. 

Điều 629 Bộ luật dân sự 2015

Điều 629. Di chúc miệng

1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.

2. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Việc lập di chúc miệng được áp dụng khi tính mạng một người bị cái chết đe doa, không thể tự lập di chúc bằng văn bản. Việc lập di chúc miệng được coi là hợp pháp khi có các yếu tố sau đây

Điều 630 Bộ luật dân sự 2015

….5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Chia di sản có tài sản là nhà ở

2.1.2 Thừa kế theo pháp luật

Theo bộ luật dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật được định nghĩa như sau, Điều 649

Điều 649. Thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.

Thừa kế theo pháp luật là đối tượng theo quy định của pháp luật đương nhiên được hưởng tài sản thừa kế, theo điều kiện mà pháp luật quy định về đối tượng được hưởng cũng như trình tự thừa kế.

Khi thuộc một trong những trường hợp dưới đây, thừa kế theo pháp luật được áp dụng, Điều 650 Bộ luật dân sự 2015

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

2.2 Đối tượng được hưởng di sản

Quyền thừa kế, Điều 609 Bộ Luật dân sự 2015

Điều 609. Quyền thừa kế

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.

Theo như quy định trên đối tượng được pháp luật quy định về hưởng di sản là cá nhân, tổ chức.

Tuy nhiên, để đảm bảo quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân, một số trường hợp dưới đây không được quyền hưởng di sản, Điều 621 bộ luật dân sự 2015

Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Như vậy, theo như thông tin bạn cung cấp, nếu không có gì phát sinh, bạn em trai và mẹ có quyền được hưởng di sản là căn nhà mà do bố bạn để lại.

Chia di sản có tài sản là nhà ở

2.3 Thời điểm mở thừa kế

Theo quy định của pháp luật hiện tại, thời điểm mở thừa kế được quy định cụ thể như sau

Điều 611. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

2. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.

Cũng như tại điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, quy định về thời hiệu thừa kế như sau

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Tuy nhiên, Bố bạn mất năm 1975, theo quy định, thời hiệu thừa kế được tính theo thời hiệu tại Pháp lệnh thừa kế năm 1990. Cụ thể, tại điều 36, Pháp lệnh thừa kế năm 1990 quy định như sau

Điều 36: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

1- Trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác.

2- Trong thời hạn ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản.

3- Trong trường hợp do trở ngại khách quan mà không thể thực hiện được quyền khởi kiện trong thời hạn quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này thì thời gian bị trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện.

4- Đối với các việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh này thì thời hạn quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này được tính từ ngày công bố Pháp lệnh này.

Theo như khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990, thời hiệu thừa kế sẽ có hiệu lực từ khi Pháp lệnh thừa kế được ban hành, tức là 10/9/1990. Tuy nhiên, đối với di sản là bất động sản, thời hiệu được quy định như sau

Tại nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10, khoản 2 điều 17 quy định:

(…) 2. Thời gian từ ngày 1 tháng 7 năm 1996 đến ngày Nghị quyết này có hiệu lực không tính vào thời hiệu trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đối với giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991.

Như vậy, từ 1/7/1996 đến 1/1/1999 không được tính vào thời hiệu khởi kiện. Dựa trên các quy định trên đối với trường hợp bạn cung cấp, bạn vẫn có quyền yêu cầu Tòa án chia di sản.

Kết luận: Dựa trên các căn cứ pháp lý, bạn vẫn có quyền yêu cầu Tòa án phân chia di sản. Bạn cần soạn thảo đơn từ, tài liệu cũng như nộp đơn tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Tuy nhiên quá trình tự thực hiện tại Tòa án sẽ gặp nhiều khó khăn, để được hỗ trợ kịp thời, xin vui lòng liên lệ với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6500

     Bài viết tham khảo:

       Để được tư vấn chi tiết về chia di sản có tài sản là nhà ởquý khách vui lòng liên hệ tới để được luật sư tư vấn Tổng đài tư vấn pháp luật 24/7: 19006500 hoặc Gửi câu hỏi về địa chỉ Gmail: lienhe@luattoanquoc.com Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

     Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./. 

Chuyên viên: Việt Anh