Những tình tiết sự kiện không phải chứng minh trong tố tụng dân sự

Những tình tiết sự kiện không phải chứng minh trong tố tụng dân sự,Những tình tiết sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận [..]

NHỮNG TÌNH TIẾT SỰ KIỆN KHÔNG PHẢI CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 

Kiến thức của bạn:

       Những tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh trong tố tụng dân sự 

Kiến thức của luật sư:

      Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi qua email- Phòng tư vấn Luật của công ty Luật Toàn Quốc. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau:

Nội dung tư vấn: Những tình tiết sự kiện không phải chứng minh trong tố tụng dân sự 

Căn cứ pháp lý:

  • Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có quy định :

Điều 92. Những tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh

1. Những tình tiết, sự kiện sau đây không phải chứng minh:

a) Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận;

b) Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật;

c) Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp; trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính.

2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.

3. Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện.

Những tình tiết sự kiện không phải chứng minh

Những tình tiết sự kiện không phải chứng minh

       1.Những tình tiết sự kiện không phải chứng minh trong tố tụng dân sự 

       Trong vụ việc dân sự, việc xác định chủ thể nào có trách nhiệm đưa ra chứng cứ và có nghĩa vụ chứng minh là vấn đề rất quan trọng. Tuy nhiên trên thực tế pháp luật tố tụng dân sự đã quy định những trường hợp tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh. Cụ thể như sau:

       + Những tình tiết sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận. Vì mục đích của việc chứng minh là việc làm rõ các tình tiết sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự. Việc Tòa án giải quyết vụ việc dân sự thì Tòa án phải nắm vững các tình tiết sự kiện liên quan đến vụ án và được Tòa án thừa nhận.Nếu chưa rõ thì đương sự cần phải chứng minh.

       Ví dụ:Trong vụ kiện tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá, nguyên đơn là Công ty A khởi kiện yêu cầu bị đơn là Công ty B phải bồi thường thiệt hại do việc giao hàng chậm, không đúng với thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng. Phía bị đơn nại rằng, việc giao hàng chậm là do trên đường vận chuyển, tàu của bị đơn gặp bão nên không thể tiếp tục đi được, và xem đây là sự kiện bất khả kháng nên không chấp nhận việc bồi thường. Trong trường hợp này, nếu thực tế có bão xảy ra thì Công ty B không phải chứng minh đối với sự kiện này. Tuy nhiên, Công ty B phải có nghĩa vụ chứng minh sự kiện mưa bão đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến hải trình của họ. Nếu không chứng minh được vấn đề này thì không thể viện dẫn lý do bất khả kháng để thoái thác trách nhiệm bồi thường.

       +Những tình tiết sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật. Trong lĩnh vực dân sự, pháp luật quy định cho các chủ thể có nhiều phương thức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tòa án và các cơ quan Nhà Nước đã đại diện cho các cơ quan công quyền giải quyết vụ việc bằng quyền lực Nhà nước. Do vậy, những tình tiết trước đây đã được Tòa án, hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì những tình tiết này không cần phải chứng minh. Mục đích của việc quy định đó là để đảm bảo thống nhất quyền lực Nhà nước, tránh vụ việc trở lên phức tạp hơn.

     + Những tình tiết đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp, trường hợp có sự nghi ngờ tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, công chứng chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính. Những tình tiết sự kiện trong trường hợp này được coi như là chứng cứ để giải quyết vụ án dân sự. Đương sự được đương nhiên miễn trừ nghĩa vụ chứng minh. Việc quy định như vậy, để đảm bảo việc Tòa án trong việc chủ động đánh giá chứng cứ.

    + Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phải đối những tình tiết sự kiện tài liệu văn bản kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không cần phải chứng minh.

    + Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện. Như vậy, trong trường hợp đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện. 

     Như vậy, việc pháp luật quy định những tình tiết sự kiện không phải chứng minh đã giảm bớt gánh nặng dẫn chứng cho các bên đương sự. Đồng thời cũng tạo điều kiện cho đương sự xác định giá trị chứng minh của chứng cứ.

       Trên đây là ý kiến tư vấn pháp luật của chúng tôi về những tình tiết sự kiện không phải chứng minh. Nếu còn bất cứ vướng mắc nào. Bạn vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn luật hình sự miễn phí 24/7 : 19006500 để gặp trực tiếp luật sư tư vấn và  để  yêu cầu cung cấp dịch vụ. Hoặc Gửi nội dung tư vấn qua email: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của bạn. Chúng tôi luôn mong nhận được ý kiến đóng góp của anh chị để chúng tôi ngày càng trở lên chuyên nghiệp hơn.

     Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của anh; chị.

     Trân trọng ./.

     Liên kết ngoài tham khảo: