Bị coi là đồng phạm khi nào

Bị coi là đồng phạm khi nào..những căn cứ pháp lý quy định hành vi phạm tội của người phạm tội bị coi là đồng phạm..đồng phạm theo bộ luật hình sự

BỊ COI LÀ ĐỒNG PHẠM KHI NÀO

Câu hỏi của bạn:

     Chào luật sư, em có câu hỏi muốn hỏi xin được tư vấn như sau:

     Em muốn hỏi rằng nếu người 15 tuổi giúp một người 19 tuổi trộm cắp tài sản thì người 15 tuổi có bị coi là đồng phạm hay không?

     Em xin chân thành cảm ơn.

Câu trả lời:

      Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Phòng tư vấn luật qua email- Luật Toàn quốc. Trường hợp hành vi phạm tội được coi là đồng phạm khi nào chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

  • Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Nội dung tư vấn:

     Thứ nhất, đồng phạm theo quy định của bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009

     Điều 20 bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về đồng phạm tại khoản 1 như sau: “1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.”

     Phân tích cấu thành đồng phạm theo quy định của bộ luật hình sự như sau:

  • Về mặt khách quan:
    • Có từ hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể tội phạm (gồm tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm, từ đủ 14 tuổi tới dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, không thuộc một trong số các trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 13 bộ luật hình sự; và đồng thời người này đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể).
    • Những người này phải cùng thực hiện tội phạm (cố ý cùng thực hiện).

     Theo quy định tại khoản 2, điều 20 bộ luật hình sự quy định cùng thực hiện tội phạm của đồng phạm có nghĩa là người đồng phạm phải tham gia vào tội phạm với một trong số bốn tư cách sau: “2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

     Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

     Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

     Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

     Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

     3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.”

     Trong đó:

  • Hành vi thực hiện tội phạm: người có hành vi này được gọi là người thực hành. Những người này có thể tự mình thực hiện tội phạm hoặc không tự mình thực hiện hành vi phạm tội mà có hành động cố ý tác động đến người khác để người này thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm; tuy nhiên người bị tác động lại không phải chịu trách nhiệm hình sự vì: họ là người không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc chưa đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự do luật định; họ không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý do sai lầm; họ được loại trừ trách nhiệm hình sự do bị cưỡng bức tinh thần.
  • Hành vi tổ chức thực hiện tội phạm: tổ chức thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm, là người có vai trò thành lập nhóm đồng phạm hoặc điều khiển hoạt động của nhóm đó, có thể là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Người có hành vi này được coi là người tổ chức. Người chủ mưu là người đề ra âm mưu, phương hướng, hoặc động của nhóm đồng phạm; chủ mưu có thể trực tiếp thực điều khiển hoạt động của tổ chức nhưng cũng có thể không. Người cầm đầu là người thành lập nhóm đồng phạm hoặc tham gia vào việc soạn thảo kế hoạch, phân công, giao trách nhiệm cho đồng bọn cũng như đôn đốc, điều khiển hoạt động của nhóm đồng phạm. Người chỉ huy là người điều khiển trực tiếp của nhóm đồng phạm có vũ trang hoặc bán vũ trang.
  • Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm: được mô tả trong cấu thành tội phạm nêu trên, người này được coi là người xúi giục. Đặc điểm của người xúi giục là tác động đến tư tưởng và ý chí của người khác, khiến người này phạm tội. Hành vi xúi giục phải trực tiếp, nghĩa là kẻ xúi giục phải nhằm vào một hoặc một số người nhất định. Việc kêu gọi, hô hào mà không hướng tới những người xác định thì không phải là hành vi xúi giục.
  • Hành vi giúp sức người khác như tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho việc thực hiện tội phạm. Người có hành vi này được coi là người giúp sức. Thông thường hành vi giúp sức được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Giúp sức về mặt vật chất có thể là cung cấp công cụ, phương tiện hoặc khắc phục những trở ngại…để tạo điều kiện cho người thực hành thực hiện tội phạm được dễ dàng, thuận lợi hơn. Giúp sức về tinh thần có thể là những hành vi cung cấp những gì tuy không có tính vật chất nhưng cũng tạo cho người thực hành điều kiện thuận lợi hơn trong việc thực hiện hành vi phạm tội như chỉ dẫn, góp ý kiến, cung cấp tình hình…

     => Nếu không có một trong số các hành vi này thì không thể được coi là cùng thực hiện và không thể là người đồng phạm được.

     Cần lưu ý: trong vụ đồng phạm có thể có đủ bốn loại hành vi tham gia nhưng cũng có thể chỉ có một hoặc một vài hành vi. Người đồng phạm có thể tham gia với một loại hành vi nhưng cũng có thể tham gia với nhiều loại hành vi khác nhau. Hậu quả của tội phạm là kết quả chung do hoạt động của tất cả những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm đưa lại. Giữa hành vi của mỗi người và hậu quả của tội phạm đều có quan hệ nhân quả. Hành vi của người thực hành là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả còn hành vi của những người khác (xúi giục, tổ chức, giúp sức) thông qua hành vi của người thực hành mà gây ra hậu quả.

  • Về mặt chủ quan:
    • Dấu hiệu về lỗi: đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý. Mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của những người đồng phạm khác. Về mặt lí trí, mỗi người đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình; mỗi người đồng phạm còn thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện. Về ý chí, những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh. Tuy nhiên, cần phân biệt những trường hợp không mong muốn có sự liên kết hành vi để cùng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng lại có cùng hành vi phạm tội thì không thể là đồng phạm được.
    • Dấu hiệu mục đích: dấu hiệu cùng mục đích trong trường hợp đồng phạm những tội có mục đích là dấu hiệu bắt buộc. Những tội đòi hỏi có cùng mục đích khi đồng phạm thực hiện tội phạm có nghĩa là khi những người tham gia đều có chung mục đích được phản ánh trong cấu thành tội phạm hoặc biết rõ và tiếp nhận mục đích đó. Nếu không thỏa mãn cũng mục đích sẽ không có đồng phạm. Trong trường hợp này những người tham gia sẽ chịu trách nhiệm hình sự độc lập với nhau.
Bị coi là đồng phạm khi nào

Bị coi là đồng phạm khi nào

      Thứ hai, hành vi phạm tội được coi là đồng phạm khi nào? Người 15 tuổi giúp một người 19 tuổi trộm cắp tài sản thì có bị coi là đồng phạm không?

     Hành vi phạm tội được coi là đồng phạm khi:

  • Chủ thể thực hiện tội phạm phải đủ điều kiện về tuổi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
  • Dấu hiệu phạm tội phải thỏa mãn những điều kiện được chúng tôi phân tích ở trên.

     Những thông tin mà bạn cung cấp cho chúng tôi về hành vi của người 15 tuổi này chưa đủ để chúng tôi kết luận về tính chất, mức độ đồng phạm hay vai trò của người 15 tuổi trong hành vi phạm tội. Do đó, chúng tôi xin tư vấn tổng quát cho trường hợp của bạn, nếu người 15 tuổi là đồng phạm thì ít nhất phải là những người có các yếu tố cấu thành như sau:

  • Về độ tuổi: Người 15 tuổi theo quy định của pháp luật hình sự phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng.
  • Về năng lực hành vi: không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 13 bộ luật hình sự.
  • Người 15 tuổi đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể được quy định trong bộ luật hình sự.
  • Trong quá trình thực hiện tội phạm, người 15 tuổi đóng vai trò là người xúi giục, tổ chức, thực hành hoặc giúp sức. Theo thông tin bạn cung cấp chúng tôi trước hết nhận định hành vi của người 15 tuổi có thể là hành vi giúp sức người 19 tuổi thực hiện hành vi trộm cắp.
  • Các yếu tố về mặt lỗi, mục đích, hành vi phạm tội phải thỏa mãn các quy định về đồng phạm nêu trên.

     =>Tiểu kết: Là đồng phạm hay không thì trước hết người thực hiện tội phạm phải là những người thực hiện một trong số các hành vi phản ánh vai trò của họ trong quá trình thực hiện; đáp ứng về mặt chủ thể chịu trách nhiệm hình sự; đáp ứng các điều kiện về mặt khách quan, mặt chủ quan như chúng tôi đã phân tích phía trên thì mới có căn cứ để ghi nhận đó là đồng phạm.

     Bài viết tham khảo:

     Người 15 tuổi phạm tội xử lý như thế nào?

     Quy trình giải quyết vụ án Hình sự

Trên đây là tư vấn pháp luật của chúng tôi về bị coi là đồng phạm khi nào. Nếu còn bất cứ vướng mắc nào, bạn vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn luật hình sự miễn phí 24/7: 19006500 để gặp trực tiếp luật sư tư vấn và để yêu cầu cung cấp dịch vụ. Hoặc Gửi nội dung tư vấn qua email: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của bạn.Chúng tôi luôn mong nhận được ý kiến đóng góp của mọi người để chúng tôi ngày càng trở lên chuyên nghiệp hơn.

      Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của mọi người.

      Trân trọng.

     Liên kết ngoài tham khảo: