Chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS không?

Chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS không?Đánh giá bài viết Xem mục lục của bài viết1 Chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS2 Câu hỏi về chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS3 Câu trả lời về chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS3.1 1. Cơ […]

Chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS không?
Đánh giá bài viết

Chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS

Câu hỏi về chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS

     Chào luật sư. Lời đầu tiên cho tôi được chúc luật sư và gia đình, cùng toàn thể cộng sự của luật sư sức khỏe, may mắn, hạnh phúc và thành công.

     Xin phép luật sư cho tôi hỏi: Tôi và chồng kết hôn đã được hơn 10 năm, vào đầu năm 2018 chồng tôi có ngoại, tuy nhiên chồng tôi và cô ta chỉ vào nhà nghỉ xong rồi ai về nhà ấy. Ngoài ra chồng tôi và cô ta có nhắn tin tình cảm với nhau trên fecebook, được một thời gia sau thì chồng của cô bồ phát hiên ra sự việc và tiến hành ly hôn, đồng thời chồng cô ta cũng tố cáo chồng tôi ra Công an. Vậy xin hỏi chồng tôi có thể bị TCTNHS hay không?. Tôi xin cám ơn!

Câu trả lời về chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS

     Chào bạn, Luật Toàn Quốc xin cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn về chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS như sau:

1. Cơ sở pháp lý về chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS

2. Nội dung tư vấn về chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS

     Trong câu hỏi của bạn, chúng tôi hiểu rằng hiện nay bạn đang thắc mắc là: “Bạn và chồng bạn kết hôn đã được hơn 10 năm, Tuy nhiên vào khoảng đầu năm 2018 chồng bạn có ngoại tình, việc ngoại tình của chồng bạn và cô bồ được diễn ra tại nhà nghỉ xong rồi ai về nhà ấy. Một thời gia sau chồng của cô bồ phát hiện ra sự việc, và vì chuyện đó mà chồng họ đang ly hôn cô vợ. Đồng thời, chông cô ta đang làm đơn tố cáo chồng bạn ra Công an. Hiện nay bạn đang thắc mắc là với sự việc nêu trên chồng bạn có thể bị TCTNHS không?. Căn cứ vào nội dung câu hỏi trên, cũng như căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành và các văn bản pháp lý liên quan, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau:

2.1. Quy định của pháp luật về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS

Chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS

a. Mặt khách quan

  • Hành vi:

     Người phạm tội là người đang có vợ, có chồng mà lại kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người phạm tội là người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ

      Một lưu ý là hành vi của người phạm tội chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi hành vi của họ làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

b. Khách thể

     Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, một trong những nguyên tắc cơ bản quy định Luật Hôn nhân và gia đình 2014. 

c. Mặt chủ quan

     Người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Tức là người phạm tội biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, biết hậu quả có thể xảy ra và họ mong muốn cho hậu quả đó xảy ra.

d. Chủ thể

     Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, phải dù tuổi kết hôn (nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên) và phải là đang có vợ hoặc có chồng hợp pháp hoặc là người chưa có vợ, chưa có chồng nhưng biết rõ người khác đang có chồng có vợ, mà vẫn kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đó.

2.2. Tư vấn cụ thể vụ việc của khách hàng

     Như đã phân tích ở trên, để cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng đòi hỏi người phạm tội phải có một trong hai hành vi là: Đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ

  • Chung sông như vợ chồng: được hiểu là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó
  • Việc kết hôn trái pháp luật: thể hiện qua việc dùng thủ đoạn khai báo gian dối và chưa có vợ hoặc chồng, hoặc mua chuộc cán bộ có thẩm quyển để tiến hành việc kết hôn nhằm xác lập quan hệ hôn nhân mới giữa nam, nữ trong khi chính họ đang có vợ hoặc chồng.

         Mặt khác đang có vợ hoặc có chồng được hiểu bao hàm là cả hôn nhân pháp lý (có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình) hoặc hôn nhân thực tế (hôn nhân thực tế là hôn nhân là hôn nhân có đủ điều kiện kết hôn về nội dung, chỉ vi phạm điều kiện về hình thức là không có đăng ký kết hôn. Các điều kiện về nội dung là: có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau; việc chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên chấp nhận); việc chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến; họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình. Hành vi sống chung như vợ chồng với người khác là hành vi của nam và nữ không có đăng ký kết hôn nhưng về sống chung với nhau như vợ chồng, có thể có tổ chức lễ cưới hoặc không tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán; gia đình có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; họ sống với nhau như vợ chồng một cách công khai, mọi người xung quanh đều biết và cho rằng họ là vợ chồng.)

     Mà trong tình huống của bạn, chúng tôi nhận thấy chồng bạn và người phu nữ kia chỉ ngoại tình với nhau trong nhà nghỉ. Như vậy nếu xét dưới góc độ cấu thành tội phạm thì hành vi của chồng bạn và người tình của chồng bạn không phải là hành vi tội phạm được mô tả trong cấu thành tội phạm của tôi vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Do đó theo chúng tôi chồng bạn sẽ không bị TCTNHS

     Bạn có thể tham khảo bài viết sau:

     Để được tư vấn chi tiết về Chồng vào nhà nghỉ với bồ có bị TCTNHS quý khách vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật hình sự 24/7: 19006500 để được tư vấn chi tiết hoặc gửi câu hỏi về Email:lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

     Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./.