Gây tai nạn chết người phải bồi thường bao nhiêu theo quy định của pháp luật hiện hành

Trách nhiệm của người gây tai nạn chết người được pháp luật hiện hành quy định mức bồi thường đối với từng trường hợp như thế nào.

 Câu hỏi của bạn:

     Xin chào Luật sư. Tôi có thắc mắc muốn nhờ Luật sư giải đáp giúp như sau. Người nhà của tôi có gây ra tai nạn làm thiệt hại đến tính mạng của người khác. Cho tôi hỏi mức bồi thường khi gây tai nạn chết người theo quy định của pháp luật hiện hành là bao nhiêu. Mong Luật sư giải đáp giúp! Tôi cảm ơn!

Câu trả lời của Luật sư:

     Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về gây tai nạn chết người phải bồi thường bao nhiêu theo quy định của pháp luật hiện hành đến cho chúng tôi. Chúng tôi đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Cơ sở pháp lý:

  • Bộ luật dân sự 2015

     Gây tai nạn làm chết người sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại đối với người bị thiệt hại. Mức bồi thường đối với từng trường hợp sẽ dựa trên nhiều yếu tố khác nhau, cùng tìm hiểu quy định của pháp luật để hiểu rõ về vấn đề này:

1. Bồi thường thiệt hại được pháp luật quy định như thế nào?

     Điều 584 BLDS 2015 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

     Theo đó, khi một người gây thiệt hại cho người khác thì phát sinh một quan hệ nghĩa vụ, trong đó người bị thiệt có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại bồi thường còn bên gây thiệt hại có nghĩa vụ bồi thường những thiệt hại đã xảy ra. Việc bồi thường thiệt hại sẽ dựa trên những nguyên tắc sau:     

1.1.Nguyên tắc thiệt hại thực tế phải bồi thường toàn bộ

      Bồi thường toàn bộ được hiểu là thiệt hại xảy ra bao nhiêu thì phải bồi thường bấy nhiêu căn cứ vào các điều luật trong BLDS 2015 và  mức độ lỗi của các bên để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản thiệt hại tương xứng đó.

     Thực tế có được bồi thường toàn bộ hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như:

  • Người bị thiệt hại có đưa ra được đầy đủ các căn cứ chứng minh cho tất cả các loại thiệt hại hay không;
  • Người bị thiệt hại có lỗi đối với thiệt hại xảy ra với mình không;
  • Các bên có thoả thuận mức bồi thường hay không 

     Do đó trường hợp đối tượng bị xâm phạm các giá trị nhân thân là rất khó xác định bởi việc quy đổi giữa giá trị nhân thân và giá trị vật chất là tương đối.

1.2.Nguyên tắc bồi thường thiệt hại kịp thời

     Kịp thời được hiểu là ngay khi thiệt hại xảy ra, người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải nhanh chóng khắc phục tổn thất mà người bị thiệt hại phải gánh chịu. Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự nhằm giảm thiểu thiệt hại xảy ra.

1.3.Nguyên tắc thoả thuận về mức bồi thường

     Về nguyên tắc, khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự, các chủ thể có quyền thoả thuận về mọi vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đó. Trong trường hợp các bên không có thoả thuận, các vấn đề pháp lý có liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật.

1.4.Nguyên tắc giảm và thay đổi mức bồi thường thiệt hại

     Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình. Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường khi có đủ hai điều kiện song song với nhau: Do không có lỗi hoặc có lỗi vô ý mà gây thiệt hại; Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại (họ không có khả năng bồi thường toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đó).

1.5.Nguyên tắc thay đổi mức bồi thường khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế

     Mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế nghĩa là do có sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt hại cho nên mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với sự thay đổi đó hoặc do có sự thay đổi về khả năng kinh tế của người gây thiệt hại. Như vậy bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường cho phù hợp.

1.6.Nguyên tắc khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra

     Việc xác định trách nhiệm dân sự trong trường hợp cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi gây ra thiệt hại thì mỗi bên phải chịu trách nhiệm dân sự tương ứng với mức độ lỗi của mình. Trên cơ sở sự công bằng, thiệt hại đến đâu bồi thường đến đó, nhưng trong nhiều trường hợp bên bị thiệt hại lại là bên có phần lỗi dẫn đến thiệt hại do đó luật quy định bên bị thiệt hại sẽ không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của bên bị thiệt hại gây ra.

1.7.Nguyên tắc bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

     Theo nguyên tắc này nếu bên bị thiệt hại nhận thấy được thiệt hại mình sẽ phải gánh chịu nhưng vẫn không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý trong tình huống đó để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình thì sẽ không được bồi thường.

2.Gây tai nạn chết người phải bồi thường bao nhiêu?

     Pháp luật dân sự sẽ dựa trên nguyên tắc thoả thuận của các bên là căn cứ để bồi thường khi gây tai nạn chết người. Tuy nhiên trong trường hợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại không thoả thuận được mức bồi thường thì tại Điều 591 BLDS 2015 quy định cụ thể các căn cứ xác định mức bồi thường khi thiệt hại về tính mạng gồm:

  • Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
  • Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
  • Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
  • Thiệt hại khác do luật quy định

     Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều 591 BLDS 2015 và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

     Như vậy tại điều 591 BLDS 2015 đã có sự phân định rõ ràng giữa thiệt hại vật chất phát sinh trước khi chết và thiệt hại vật chất phát sinh sau khi chết. Bồi thường thiệt hại trước khi chết là những khoản bồi thường cho người chết, nhằm bù đắp những chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc họ được liệt kê tại Điều 590 BLDS 2015 bao gồm:

  • Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc trước khi chết
  • Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế
  • Tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế theo chỉ thị của bác sĩ
  • Thu nhập thực tế bị mất của người bị hại
  • Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết: Tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị, chạy chữa cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế

     Bồi thường thiệt hại sau khi chết là những khoản bồi thường cho người thân thích của người chết, gồm chi phí hợp lý cho việc mai táng, cấp dưỡng thay cho người chết và những thiệt hại khác theo luật định.

     Ngoài ra, đối với thiệt hại vật chất, tổn thất về tinh thần trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm cũng có thay đổi về mức bồi thường tối đa nếu các bên không thoả thuận được là không vượt quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và mức bồi thường này là cho một người có tính mạng bị xâm phạm.

3.Câu hỏi của bạn về gây tai nạn chết người thì phải bồi thường bao nhiêu?

 Câu hỏi 1: Người gây thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con của của người bị thiệt hại tính mạng đến khi nào? 

     Khoản 2 Điều 593 BLDS 2015 quy định:

“Trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng từ thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết trong thời hạn sau đây:

Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;

Người thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết”

     Như vậy người gây thiệt hại sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng cho con của người bị thiệt hại tính mạng cho đến khi:

  • Nếu đứa trẻ chưa thành niên thì cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi trừ trường hợp đứa trẻ từ đủ mười lăm tuổi đã tham gia lao động để nuôi bản thân
  • Nếu đứa trẻ đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thì cấp dưỡng cho đến khi đứa trẻ đó chết.

Câu hỏi 2: Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bên gây thiệt hại khi gây tai nạn bồi thường là bao nhiêu lâu.

Theo quy định của BLDS 2015 thời hiệu khởi kiện là 3 năm kể từ ngày có thiệt hại xảy ra.

                                                                                                                                           

Dịch vụ hỗ trợ khách hàng về gây tai nạn chết người phải bồi thường bao nhiêu

Tư vấn qua Tổng đài 19006500: Đây là hình thức tư vấn được nhiều khách hàng sử dụng nhất, vì bạn có thể đặt thêm các câu hỏi khác liên quan về gây tai nạn chết người phải bồi thường bao nhiêu. Chỉ sau một vài câu hỏi của Luật Sư, vấn đề của bạn sẽ được giải quyết; bạn có thể gọi cho Luật Toàn Quốc vào bất cứ thời gian nào chúng tôi luôn sẵn sàng tư vấn cho bạn.

Tư vấn qua Email: Bạn có thể gửi Email câu hỏi về gây tai nạn chết người phải bồi thường bao nhiêu  tới địa chỉ : lienhe@luattoanquoc.com chúng tôi sẽ biên tập và trả lời qua Email cho bạn. Tuy nhiên việc trả lời qua Email sẽ mất nhiều thời gian và không thể diễn tả được hết ý của câu hỏi vì vậy bạn nên gọi cho Luật Toàn Quốc để được tư vấn tốt nhất.

Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./.

  Chuyên viên: Lê Vũ