Quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự





Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự  Câu hỏi của bạn:       Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Câu trả lời của Luật sư:      Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và […]

Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự 

Câu hỏi của bạn

     Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Câu trả lời của Luật sư:

     Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Phòng tư vấn luật qua email- Luật Toàn quốc. Chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư như sau:

Căn cứ pháp lý:

Nội dung tư vấn: Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự

1. Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự 

     Trước hết, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự được hiểu là khoảng thời gian cần thiết để chuẩn bị cho việc xét xử vụ án hình sự của Toà án tuỳ theo tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự như sau:

Điều 277. Thời hạn chuẩn bị xét xử

“1. Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định:

a) Đưa vụ án ra xét xử;

b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;

c) Tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án.

Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Đối với vụ án được trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp phục hồi vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này kể từ ngày Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án.

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày.”

Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự đối với từng loại tội phạm cụ thể là khác nhau, cụ thể: 

  • Đối với tội phạm ít nghiêm trọng: Thời hạn chuẩn bị xét xử là 30 ngày;
  • Đối với tội phạm nghiêm trọng: Thời hạn chuẩn bị xét xử là 45 ngày; 
  • Đối với tội phạm rất nghiêm trọng: Thời hạn chuẩn bị xét xử là 02 tháng;
  • Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Thời hạn chuẩn bị xét xử là 03 tháng.

     Ngoài ra, đối với vụ án phức tạp, Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. 

Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự

Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự

2. Các quyết định được đưa ra trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự

     Theo quy định tại điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ toạ phiên toà phải ra một trong các quyết định sau đây:

     Thứ nhất, quyết định đưa vụ án ra xét xử;

     Nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử phải tuân thủ theo quy định tại khoản 1 điều 255 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể như sau:

Điều 255. Quyết định đưa vụ án ra xét xử

“1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định; tên Tòa án ra quyết định; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;

b) Xét xử công khai hay xét xử kín;

c) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của bị cáo;

d) Tội danh và điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo;

đ) Họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án; họ tên Thẩm phán dự khuyết, Hội thẩm dự khuyết, Thư ký Tòa án dự khuyết (nếu có);

e) Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa; họ tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có);

g) Họ tên người bào chữa (nếu có);

h) Họ tên người phiên dịch (nếu có);

i) Họ tên những người khác được triệu tập đến phiên tòa;

k) Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa.”

     Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày.

     Thứ hai, quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung;

     Các trường hợp Thẩm phán chủ toạ phiên toà quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bao gồm:

  • Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự mà không thể bổ sung tại phiên toà được;
  • Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự coi là tội phạm;
  • Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can;
  • Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

     Đối với vụ án được trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử

     Thứ ba, quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án hình sự

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định các trường hợp tạm đình chị hoặc đình chị vụ án hình sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự như sau: 

Điều 281. Tạm đình chỉ vụ án

“1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Có căn cứ quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 229 của Bộ luật này;

b) Không biết rõ bị can, bị cáo đang ở đâu mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử; trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can, bị cáo trước khi tạm đình chỉ vụ án. Việc truy nã bị can, bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật này;

c) Chờ kết quả xử lý văn bản pháp luật mà Tòa án kiến nghị.

2. Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để tạm đình chỉ không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị cáo.

3. Quyết định tạm đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do tạm đình chỉ và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.”

Điều 282. Đình chỉ vụ án

“1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 hoặc các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 157 của Bộ luật này;

b) Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa.

Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị cáo.

2. Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do đình chỉ và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.”

     Ngoài ra, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: 

     Để được tư vấn vấn chi tiết về Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự , quý khách vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật hình sự 24/7: 19006500  để được luật sư tư vấn hoặc gửi câu hỏi về địa chỉ Gmail: lienhe@luattoanquoc.com. Hy vọng đây sẽ là kênh tư vấn hiệu quả nhất.

     Xin chân thành cảm ơn.