Thỏa thuận trọng tài vô hiệu trong những trường hợp nào?

Thỏa thuận trọng tài vô hiệu Kiến thức cho bạn Thỏa thuận trọng tài vô hiệu Kiến thức của Luật sư Căn cứ pháp lý Luật trọng tài thương mại năm 2010  Nghị quyết 01/2014/NQ- HĐTP Hướng dẫn luật trọng tài thương mại 2010 Nội dung tư vấn: Thỏa thuận trọng tài vô hiệu Luật trọng […]

Thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Kiến thức cho bạn

Thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Kiến thức của Luật sư

Căn cứ pháp lý

Nội dung tư vấn: Thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Luật trọng tài thương mại 2010 quy định về những trường hợp mà các bên có thỏa thuận trọng tài nhưng khi phát sinh tranh chấp, các bên không thể tiến hành giải quyết tại Trung tâm trọng tài như đã thỏa thuận. Đó là khi thỏa thuận trọng tài này thuộc vào một trong số các trường hợp bị vô hiệu theo điều 18 luật trọng tài thương mại và được hướng dẫn tại điều 14 nghị quyết 01/2014/NQ- HĐTP. Cụ thể như sau:

1. Thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi nào

Thỏa thuận trọng tài vô hiệu nếu như thỏa thuận đó thuộc một trong các trường hợp được quy định tại điều 18 luật trọng tài thương mại, gồm:

  • Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật này: “Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài” quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật TTTM là trường hợp thỏa thuận trọng tài được xác lập để giải quyết tranh chấp không thuộc lĩnh vực quy định tại Điều 2 Luật TTTM.
  • Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật: Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật TTTM là người xác lập thỏa thuận trọng tài khi không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền.

     Về nguyên tắc thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập thì thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu. Trường hợp thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập nhưng trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài hoặc trong tố tụng trọng tài mà người có thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài đã chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối thì thỏa thuận trọng tài không vô hiệu.

  • Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự: Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự” quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật TTTM là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Trong trường hợp này thì Tòa án cần thu thập chứng cứ để chứng minh người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự thì phải có giấy tờ tài liệu chứng minh ngày tháng năm sinh hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền hoặc quyết định của Tòa án xác định, tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
  • Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này: “Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 Luật TTTM” quy định tại khoản 4 Điều 18 Luật TTTM là trường hợp thỏa thuận trọng tài không được xác lập bằng một trong các hình thức quy định tại Điều 16 Luật TTTM và hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết này.
  • Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu: “Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài” quy định tại khoản 5 Điều 18 Luật TTTM là trường hợp một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép theo quy định tại Điều 4, Điều 132 của Bộ luật dân sự.
  • Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật:  “Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật” quy định tại khoản 6 Điều 18 Luật TTTM là thỏa thuận thuộc trường hợp quy định tại Điều 128 của Bộ luật dân sự.
Thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Thỏa thuận trọng tài vô hiệu

2. Thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

Điều 33 luật trọng tài thương mại 2010 quy định về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài như sau: “Trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác, thời hiệu khởi kiện theo thủ tục trọng tài là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.” Quá thời hạn quy định nêu trên, các bên trong tranh chấp không thực hiện việc khởi kiện thì sẽ không có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

=> Như vậy, luật trọng tài thương mại quy định về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại:

  • Thứ nhất, nếu luật chuyên ngành có quy định về thời hiệu khởi kiện thì áp dụng luật chuyên ngành đó.
  • Thứ hai, nếu luật chuyên ngành không có thì áp dụng luật trọng tài thương mại, thời hiệu này là 02 năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.

Bài viết tham khảo:

     Để được tư vấn vấn chi tiết về Thỏa thuận trọng tài vô hiệu trong những trường hợp nào?, quý khách vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật doanh nghiệp 24/7: 19006500 để được luật sư tư vấn hoặc gửi câu hỏi về địa chỉ Gmail: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất. 

     Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của quý khách hàng!

     Trân trọng./.