Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics mới nhất 2020

Dịch vụ logistics là gì? Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics 2020 mới nhất...Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó...tư vấn luật 19006236..

Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics 2020

Câu hỏi của bạn về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics 2020:

     Xịn chào luật sư!

     Luật sư có thể cho tôi hỏi thế nào là kinh doanh dịch vụ logistics và để kinh doanh loại dịch vụ này cần đáp ứng điều kiện gì? Mong nhận được ý kiến tư vấn từ luật sư.

     Xin cảm ơn luật sư!

Câu trả lời của luật sư về điều kiện kinh doanh sịch vụ logistics 2020:

     Chào bạn, Luật Toàn Quốc xin cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics 2020, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics 2020 như sau:

1. Cơ sở pháp lý về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics 2020

2. Nội dung tư vấn về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics 2020

     Trong thời kỳ kinh tế hội nhập như hiện nay, việc bảo đảm vận chuyển, bảo quản hàng hóa từ khu vực này sang khu vực khác và từ quốc gia này sang quốc gia khác đóng vai trò quan trọng. Theo đó, dịch vụ Logistics ra đời giúp giải quyết đầu vào lẫn đầu ra cho doanh nghiệp một cách hiệu quả, tối ưu hoá quá trình chu chuyển nguyên liệu, hàng hoá, dịch vụ….Vậy, dịch vụ logistics là gì? Để kinh doanh dịch vụ logistics cần đáp ứng các điều kiện nào? Chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau:

2.1. Khái niệm về logistics

     Hiện nay, có rất nhiều khái nhiệm về logistics được đưa ra tranh luận. Đây là một trong những thuật ngữ khó dịch nhất từ tiếng Anh sang Tiếng Việt (tương tự như từ “Marketing”). Có một số quan điểm tiêu biểu sau:

     Theo Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ: “logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng”    

    Chủ tịch học viện Nghiên cứu Logistics Georgia, Hoa Kỳ, ông Edward Frazelle thì cho rằng “Logistics là quá trình lưu chuyển của vật tư, thông tin và tiền tệ từ người cung ứng đến người tiêu dùng cuối cùng. Đây là một khái niệm ngắn gọn nhưng chưa đầy đủ vì chỉ nhấn mạnh khía cạnh lưu chuyển thông tin và tiền tệ trong logistics.

    Trên phương diện pháp lý, ở Việt Nam hiện nay không có khái niệm riêng về “logistics” mà chỉ có khái niệm về “dịch vụ logistics” được quy định tại điều 233 luật Thương mại 2005, cụ thể:

Điều 233. Dịch vụ logistics

Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc.

     Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất về dịch vụ logistics là một hoạt động nhằm mục đích sinh lợi được thực hiện bởi thương nhân bao gồm một hoặc nhiều công việc liên quan đến hàng hóa để hàng hóa được lưu chuyển từ khâu cung ứng đến khâu tiêu dùng như: nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, giao hàng,…

Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics 2020

2.2. Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics

     Theo điều 4 nghị định 163/2017/NĐ-CP, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cần đáp ứng các điều kiện dưới đây:

     Thư nhất, Thương nhân kinh doanh các dịch vụ cụ thể thuộc các loại dịch vụ logistics quy định tại Điều 3 Nghị định 163/2017 phải đáp ứng các điều kiện đu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với dịch vụ đó. Ví dụ: Dịch vụ chuyển phát phải đáp ứng các điều kiện để được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ bưu chính theo Luật bưu chính năm 2010; Đơn vị Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường bộ phải có đủ các điều kiện quy định tại Điều 13 Nghị định số 86/2014/NĐ-CP,…

     Thứ hai, Thương nhân tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác, ngoài việc phải đáp ứng theo quy định của pháp luật đối với các dịch vụ cụ thể còn phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử.

     Thứ ba, Đối với nhà đầu tư nước ngoài thuộc nước, vùng lãnh thổ là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới được cung cấp dịch vụ logistics còn phải đáp ứng các điều kiện sau:

     – Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển (trừ vận tải nội địa):

  • Được thành lập các công ty vận hành đội tàu treo cờ Việt Nam hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%. Tổng số thuyền viên nước ngoài làm việc trên các tàu treo cờ quốc tịch Việt Nam (hoặc được đăng ký ở Việt Nam) thuộc sở hữu của các công ty này tại Việt Nam không quá 1/3 định biên của tàu. Thuyền trưởng hoặc thuyền phó thứ nhất phải là công dân Việt Nam.
  • Công ty vận tải biển nước ngoài được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp.

     – Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ vận tải biển (có thể dành riêng một số khu vực để cung cấp các dịch vụ hoặc áp dụng thủ tục cấp phép tại các khu vực này), được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%. Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.

     -Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%.

     – Trường hợp kinh doanh dịch vụ thông quan thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước. Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.

     – Trường hp kinh doanh các dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước.

     – Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%.

     – Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ, được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%. 100% lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam.

     – Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thực hiện theo quy định của pháp luật về hàng không.

     – Trường hợp kinh doanh dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật

  • Đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ được thực hiện dưới hình thức doanh nghiệp trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước sau ba năm hoặc dưới hình thức doanh nghiệp trong đó không hạn chế vốn góp nhà đầu tư nước ngoài sau năm năm, kể từ khi nhà cung cấp dịch vụ tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó.
  • Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các phương tiện vận tải.
  • Việc thực hiện dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng.

     Như vậy, đối với nhà đầu tư trong nước kinh doanh dịch vụ logistics chỉ cần đáp ứng các điều kiện đối với từng loại dịch vụ cụ thể cung cấp. Ngoài ra, nếu nhà đầu tư tiến hành kinh doanh doanh dịch vụ này thông qua phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác còn phải tuân thủ điều kiện về thương mại điện tử. Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài là thành viên trong WTO thì ngoài việc đáp ứng các điều kiện như nhà đầu tư Việt Nam còn phải tuân thủ các điều kiện về tỷ lệ cổ phần, phần vốn góp; Quốc tịch hay các tiêu chuẩn khắt khe khác cho từng lĩnh vực dịch vụ logistics mà họ cung cấp.

     Bài viết tham khảo:

     Để được tư vấn chi tiết về Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics 2020, quý khách vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật  doanh nghiệp 24/7  19006500  để được tư vấn chi tiết hoặc gửi câu hỏi về Email: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

     Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn.

Chuyên viên: Văn Chung