Thỏa thuận trọng tài thương mại được quy định như thế nào?

Thỏa thuận trọng tài thương mại theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật trọng tài thương mại là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài...

 THỎA THUẬN TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 

Kiến thức của bạn:

          Thỏa thuận trọng tài thương mại được quy định như thế nào?

Kiến thức của Luật sư:

  Cơ sở pháp lý:

  •  Bộ Luật dân sự năm 2015
  •  Luật trọng tài thương mại năm 2010;
  •  Nghị quyết 01/2014/NQ- HĐTP về hướng dẫn thi hành một số quy định Luật trọng tài thương mại;

 Nội dung tư vấn:

       Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật trọng tài thương mại quy định: “Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh.

       Như vậy, thỏa thuận trọng tài thương mại trước hết là sự thỏa thuận của các bên, tức là dựa sự tự nguyện, ý chí của các bên về việc sử dụng hình thức thỏa thuận trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp của mình. Do thỏa thuận trọng tài dựa trên ý chí tự nguyện của các bên nên các bên có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp tùy thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên. 

       Thỏa thuận trọng tài là sự thỏa thuận của các bên nhưng sự thỏa thuận thuận đó phải phù hợp với các quy định của pháp Luật thì mới được công nhận.

  1. Hình thức, tính độc lập của thỏa thuận trọng tài thương mại  

      1.1. Hình thức của thỏa thuận trọng tài thương mại

     Theo quy định của Điều 16 Luật Trọng tài thương mại quy định “Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng”

      + “ Hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng”:  Các bên kí kết hợp đồng ghi nhận việc giải quyết tranh chấp bằng thỏa thuận trọng tài thương mại ngay trong hợp đồng bằng một điều khoản cụ thể trong hợp đồng kí kết.

      + “Hình thức thỏa thuận riêng”: trong hợp đồng đã kí kết các bên không quy định về hình thức giải quyết tranh chấp bằng hình thức thỏa thuận bằng trọng tài mà kí kết một văn bản riêng

      Thỏa thuận bằng hợp đồng bắt buộc phải được thể hiện bằng hình thức văn bản, các loại hình thức khác như lời nói, hành vi không được chấp nhận. Các hình thức thỏa thuận cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản gồm:

     + Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

      + Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;

     + Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;

      + Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;

      + Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.

      1.2. Tính độc lập của thoả thuận trọng tài thương mại

      Theo quy định của Điều 19 Luật trọng tài thương mại:

       “ Điều 19. Tính độc lập của thoả thuận trọng tài

      Thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài”.

Quy định về thỏa thuận trọng tài thương mại

Thỏa thuận trọng tài thương mại

  1.  Thỏa thuận trọng tài thương mại vô hiệu và Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được

      2.1. Thỏa thuận trọng tài thương mại vô hiệu 

      Căn cứ tại Điều 18 Luật trọng tài thương mại và được cụ thể hóa trong Điều 3 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP về hướng dẫn thi hành một số quy định Luật trọng tài thương mại năm 2010. Thỏa thuận trọng tài thương mại không thể thực hiện được trong một số trường hợp sau:

      Thỏa thuận trọng tài là sự thỏa thuận của các bên nhưng trong một số trường hợp do không phù hợp với quy định của pháp luật nên thỏa thuận đó có thể bị vô hiệu. Trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu gồm:

      – “Tranh chấp phát sinh không thuộc thẩm quyền của trọng tài”: Đó là các tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài thương mại. 

      ” Điều 2 Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài

      1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.

      2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.

      3. Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.”

     Như vậy, nếu các bên thỏa thuận sử dụng hình thức thỏa thuận trọng tài nhưng vụ việc được thỏa thuận không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 trên thì thỏa thuận trọng tài vô hiệu.

     – “Chủ thể xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền”: Chủ thể có quyền xác lập thỏa thuận trọng tài là người đại diện theo pháp luật hoặc là người được ủy quyền hợp pháp đối với cá nhân. Hoặc là người đại diện hợp pháp của pháp nhân đó. Do đó, nếu những người không thuộc các chủ thể trên hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền kí kết xác lập thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận, xác lập đó vô hiệu.

     Tuy nhiên trường hợp thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập nhưng trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài hoặc trong tố tụng trọng tài mà người có thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài đã chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối thì thỏa thuận trọng tài không vô hiệu.

      – “Chủ thể xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự”: Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 17 Bộ luật Dân sự năm 2015). Người không có năng lực hành vi dân sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

     – “Hình thức của thỏa thuận trọng tài không phù hợp với quy định” Hình thức của hợp đồng là một căn cứ quan trọng để chứng minh các bên sử dụng hình thức thỏa thuận trọng tài để giải quyết tranh chấp phát sinh nên hình thức hợp đồng phải đúng với quy định của pháp luật, cụ thể là phải tuân thủ theo quy định về hình thức theo quy định của Điều 16 Luật Trọng tài thương mại.

      –” Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu”

     + Lừa dối là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của thỏa thuận đã xác lập trước đó.

     + Đe dọa, cưỡng ép là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch, thỏa thuận nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

     Thỏa thuận trọng tài là sự thỏa thuận của các bên, thể hiện ý chí, sự tự nguyện của các bên nên hành vi lừa dối, đe dọa sẽ làm mất bản chất tự nguyện trong đó. tuy nhiên hành vi lừa dối đó chỉ bị vô hiệu khi mổ bên trong thỏa thuận đó có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu.

      – “Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật”: Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. ( Điều 123 Bộ Luật Dân sự năm 2015).

      2.2. Thỏa thuận trọng tài thương mại không thể thực hiện được

     Theo quy định  tại Khoản 3, 4, 5 Điều 43 Luật trọng tài thương mại và Điều 7 Nghị quyết 01/2014/ NQ- HĐTP, trong một số trường hợp thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được. Đó là:

     + Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp.

      + Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.

      + Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.

      + Các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác với Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài đã thỏa thuận và điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế.

     + Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật TTTM nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.

     3.  Một số trường hợp ngoại lệ trong thỏa thuận Trọng tài thương mại

       Ngoài những quy định trên, Thỏa thuận trọng tài còn quy định một số trường hợp ngoại lệ được quy định tại Điều 7 Nghị quyết 01/2014/NQ- HĐTP có quy định về một số trường hợp ngoại lệ trong quy định về thỏa thuận trọng tài thương mại và Điều 17 Luật Thỏa thuận trọng tài thương mại:

      – Trường hợp có nhiều thỏa thuận trọng tài được xác lập đối với cùng một nội dung tranh chấp thì thỏa thuận trọng tài được xác lập hợp pháp sau cùng theo thời gian có giá trị áp dụng.

      – Trường hợp thỏa thuận trọng tài có nội dung không rõ ràng, có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự để giải thích.

       – Khi có sự chuyển giao quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch, hợp đồng mà trong giao dịch, hợp đồng đó các bên có xác lập thỏa thuận trọng tài hợp pháp thì thỏa thuận trọng tài trong giao dịch, hợp đồng vẫn có hiệu lực đối với bên được chuyển giao và bên nhận chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

      – Việc gộp nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp để giải quyết trong cùng một vụ kiện được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

      + Các bên thỏa thuận đồng ý gộp nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp vào giải quyết trong cùng một vụ kiện;

     + Quy tắc tố tụng trọng tài cho phép gộp nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp vào giải quyết trong cùng một vụ kiện.

       – Trường hợp tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận.

     Bạn có thể tham khảo thêm một số bài viết sau: 

     >>>> Thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư theo bản án, quyết định của tòa án, trọng tài

     >>>>Những trường hợp không công nhận phán quyết quyết của trọng tài nước ngoài

     Luật Toàn Quốc mong là những gì chúng tôi tư vấn nêu trên sẽ giúp cho quý khách có thêm những kiến thức tốt nhất về lĩnh lực vực pháp luật. Còn bất cứ vướng mắc gì quý khách vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật doanh nghiệp miễn phí 24/7: 19006500 để gặp luật sư tư vấn trực tiếp và yêu cầu cung cấp dịch vụ hoặc gửi qua Email: lienhe@luattoanquoc.com

     Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của quý khách. 

     Trân trọng!.                                                                                                       

     Liên kết tham khảo: