Quy định về hoạt động trung gian thương mại

Hoạt động trung gian thương mại, môi giới thương mại, đại diện cho thương nhân, ủy thác mua bán hàng hóa, đại lý thương mại

Hoạt động trung gian thương mại

Câu hỏi của bạn về hoạt động trung gian thương mại:

Kính gửi Luật sư!

Tôi nhờ Luật sư tư vấn cho tôi về hoạt động trung gian thương mại: chủ thể, nội dung, cơ sở phát sinh quan hệ pháp lý?

Tôi xin cảm ơn!

Câu trả lời của Luật sư về hoạt động trung gian thương mại:

   Chào bạn, Luật Toàn Quốc cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về hoạt động trung gian thương mại, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn về hoạt động trung gian thương mại như sau:

1. Cơ sở pháp lý về hoạt động trung gian thương mại:

2. Nội dung tư vấn về hoạt động trung gian thương mại:

Hoạt động trung gian thương mại là những hoạt động rất cần thiết để thúc đẩy quá trình mua bán, trao đổi hàng hóa, cung cấp các dịch vụ. Một số các hoạt động trung gian thương mại có thể kể đến như: hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại. Một số vấn đề cơ bản về các hoạt động trung gian thương mại như sau:

2.1. Quy định của pháp luật về hoạt động trung gian thương mại:

   Luật Thương mại năm 2005 đã đưa ra định nghĩa về hoạt động trung gian thương mại tại khoản 11 Điều 3 như sau:

“Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại”.

    Chương V với 37 điều (từ Điều 141 đến Điều 177), Luật Thương mại năm 2005 quy định cụ thể về từng hoạt động trung gian thương mại.

   Theo khái niệm trên, hoạt động trung gian thương mại là loại hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại trong đó bên thuê dịch vụ (bên giao đại diện, bên được môi giới, bên ủy thác, bên giao đại lý) sẽ trao cho bên trung gian (bên đại diện, bên môi giới, bên nhận ủy thác, bên đại lý) quyền tham gia thiết lập, thực hiện các giao dịch thương mại. Do đó, hoạt động trung gian thương mại chỉ phát sinh khi bên có nhu cầu sử dụng dịch vụ của người trung gian và bên cung ứng dịch vụ trung gian thiết lập được quan hệ hợp đồng với nhau. Và để thực hiện hoạt động này, bên trung gian phải tham gia giao dịch với bên thứ ba để hoàn thành yêu cầu mà bên thuê dịch vụ giao cho.

hoạt động trung gian thương mại

Hoạt động trung gian thương mại

2.2. Chủ thể tham gia vào hoạt động trung gian thương mại:

   Theo quy định tại khoản 11 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, chủ thể tham gia vào hoạt động trung gian thương mại đều phải là thương nhân.

=> Tức là bên trung gian phải là thương nhân, có tư cách pháp lý độc lập với bên thuê dịch vụ và bên thứ ba. Theo khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 thì thương nhân bao gồm:

  • tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp;
  • cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh.
  • Bên trung gian là những thương nhân độc lập, hành nghề cung ứng dịch vụ trung gian thương mại một cách chuyên nghiệp, thể hiện ở việc người trung gian có trụ sở riêng, có tư cách pháp lý độc lập, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình.

   Theo quy định tại Điều 141 và Điều 167 Luật Thương mại năm 2005 thì bên thuê dịch vụ không nhất thiết phải là thương nhân trừ bên giao đại diện và bên giao đại lý thương mại phải là thương nhân. Bên ủy thác có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân (Điều 157 Luật Thương mại). Còn bên được môi giới có bắt buộc phải là thương nhân hay không, chưa được thể hiện rõ trong Luật Thương mại.

   Như vậy, pháp luật chỉ yêu cầu chủ thể bắt buộc là thương nhân đối với bên trung gian trong tất cả các hoạt động trung gian thương mại. Tùy trong từng hoạt động cụ thể, bên thuê dịch vụ và bên thứ ba có thể là thương nhân hoặc không.

2.3. Cơ sở phát sinh quan hệ trung gian thương mại:

   Cơ sở pháp lý phát sinh quan hệ trung gian thương mại là hợp đồng do sự thỏa thuận của các bên. Trong hoạt động trung gian thương mại, quan hệ giữa bên cung ứng dịch vụ và bên thuê dịch vụ thường có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau và phát sinh trên cơ sở hợp đồng. Đó là các hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng môi giới thương mại, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa và hợp đồng đại lý thương mại.

   Theo Điều 142, 159, 168 Luật Thương mại năm 2005, các hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Như vậy, các thỏa thuận trong các loại hợp đồng  trên không thể giao kết bằng lời nói. Tuy nhiên, đối với hợp đồng môi giới, Luật Thương mại năm 2005 không quy định hình thức của loại hợp đồng này nên theo quy định tại khoản 1 Điều 76 Luật Thương mại năm 2005 thì hợp đồng môi giới có thể được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.

2.4. Các hoạt động trung gian thương mại:

   Các hoạt động trung gian thương được xác định trong Luật thương mại 2005 bao gồm:

  • Môi giới thương mại: Là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới (Điều 150, Luật thương mại 2005).
  • Ủy thác mua bán hàng hóa: Là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác (Điều 155, Luật thương mại 2005).
  • Đại diện cho thương nhân: Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện (Điều 141, Luật thương mại 2005).
  • Đại lý thương mại: Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao (Điều 166, Luật thương mại 2005).

Kết luận: Hiện, luật thương mại đang có hiệu lực thi hành áp dụng 04 hình thức trung gian thương mại, các tổ chức, cá nhân kinh doanh có thể vận dụng linh hoạt các hình thức trung gian để tiến hành các hoạt động thương mại của mình. Luật cũng có các quy định rất thông thoáng, mở rộng để các cá nhân, tổ chức hoàn toàn chủ động thực hiện các công việc.

Bài viết tham khảo:

     Để được tư vấn chi tiết về Hoạt động trung gian thương mại, quý khách vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật doanh nghiệp 24/7: 19006500 để được luật sư tư vấn hoặc gửi câu hỏi về địa chỉ Gmail: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất. 

   Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./.  

 Chuyên viên: Huyền Trang