Biện pháp ngăn chặn tạm giữ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

Biện pháp ngăn chặn tạm giữ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Theo quy định của pháp luật thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày...

Biện pháp ngăn chặn tạm giữ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

Câu hỏi của bạn:

     Xin luật sư cho biết, 

     Mình có một top em đi ăn sinh nhật; khi vào quán hát có xô xát đánh nhau bằng chân tay và bị ghi hình camera tai quán. Sau khi đánh nhau xong thì bị chủ quán đuổi giải tán ra về; nhưng có 1 cậu thuộc dân xã hội đen gọi người đến chém mấy nhát vào lưng bị can khi ra ngoài quán hát, hiện tại người này đã được cấp cứu ở viện và khỏe lại chuẩn bị được ra viện, đã viết đơn tố cáo lên công an
     Hiện tại, top người đánh nhau bị giam giữ ở bên công an quận  từ ngày 23/9 đến nay vẫn chưa được thả ra, mà top này thì không liên quan đến đâm chém, người nhà ký 2 lệnh tạm giam  thì công an họ ghi là vi phạm tội gây rối trật tự. Vậy cho mình hỏi hết thời hạn 9 ngày giam giữ, bên công an không cho người nhà gặp và làm giấy bảo lãnh tại ngoại, hết 9 ngày đó thì em mình có được thả ra hay không, hay bị chuyển sang giam giữ ở Hỏa Lò. Tôi xin cảm ơn

Câu trả lời của luật sư:

     Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Phòng tư vấn luật qua email- Luật Toàn quốc. Chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư như sau:

Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Nội dung tư vấn: Biện pháp ngăn chặn tạm giữ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về biện pháp ngăn chặn tạm giữ như sau:

Điều 87. Thời hạn tạm giữ

“1. Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày; kể từ khi Cơ quan điều tra nhận người bị bắt.

2. Trong trường hợp cần thiết; người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ; nhưng không quá ba ngày. Trong trường hợp đặc biệt; người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá ba ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn; trong thời hạn 12 giờ; kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ; Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.

3. Trong khi tạm giữ; nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

4. Thời gian tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam.”

Biện pháp ngăn chặn tạm giữ

Biện pháp ngăn chặn tạm giữ

 1. Quy định chung về biện pháp ngăn chặn tạm giữ

     Tạm giữ là biện pháp ngăn chăn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự; biện pháp này có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang; người phạm tội tự thú; đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.

     Những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này; Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển có quyền ra quyết định tạm giữ. Tức là:

“2. Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp:

a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;

b) Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;

c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.

3. Nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 80 của Bộ luật này.

4. Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn.

Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ bắt khẩn cấp quy định tại Điều này. Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.

Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt.”

 2. Hết thời hạn tạm giữ thì xử lý biện pháp ngăn chặn tạm giữ như thế nào ?

     Khoản 3 điều 87 BLTTHS 2003 quy định về xử lý biện pháp ngăn chặn tạm giữ khi hết thời hạn như sau:

“3. Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.”

     Theo quy định của pháp luật thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày, kể từ khi Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá ba ngày. Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá ba ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn; trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. 

     Như vậy tổng thời gian tạm giữ là 9 ngày kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Khi hết thời hạn nêu trên nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

     Ngoài ra bạn có thể tham khảo thêm các bài viết sau:

     Trên đây là ý kiến tư vấn pháp luật của chúng tôi. Nếu còn bất cứ vướng mắc nào. Bạn vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn luật hình sự miễn phí 24/7 : 19006500 để gặp trực tiếp luật sư tư vấn và  để  yêu cầu cung cấp dịch vụ. Hoặc Gửi nội dung tư vấn qua email: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của bạn. Chúng tôi luôn mong nhận được ý kiến đóng góp của anh chị để chúng tôi ngày càng trở lên chuyên nghiệp hơn.

     Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của anh; chị.

     Trân trọng ./.

     Liên kết ngoài tham khảo: