Quy định về việc ký tiếp hợp đồng với người lao động đủ tuổi hưu nhưng chưa đủ năm đóng bảo hiểm

Đủ tuổi hưu nhưng chưa đủ năm đóng bảo hiểm: có được ký phụ lục hợp đồng để tiếp tục làm việc hay không....

 KÝ TIẾP HỢP ĐỒNG VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐỦ TUỔI HƯU NHƯNG CHƯA ĐỦ NĂM ĐÓNG BẢO HIỂM 

Câu hỏi của bạn:

    Đơn vị tôi là đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước đảm bảo 100% kinh phí hoạt động. Có trường hợp hợp đồng lao động nam không xác định thời hạn đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội (đã đóng Bảo hiểm xã hội 18 năm 3 tháng) để nhận lương hưu. Lao động đó vẫn còn đủ sức khỏe để công tác; đơn vị có thể tiếp tục ký phụ lục hợp đồng cho đối tượng trên đến khi đóng đủ BHXH để được nhận lương hưu hay không và quy định như thế nào để đảm bảo về mặt pháp luật ?

Câu trả lời của luật sư:

    Chào bạn, Luật Toàn Quốc xin cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi tới Phòng tư vấn pháp luật qua Email – Luật Toàn Quốc với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau:

Căn c pháp lý:

Nội dung tư vấn về trường hợp người lao động đủ tuổi hưu nhưng chưa đủ năm đóng bảo hiểm

1. Người lao động đủ tuổi hưu nhưng chưa đủ năm đóng bảo hiểm thì có được ký tiếp phụ lục hợp đồng đến khi đóng đủ bảo hiểm để được nhận lương hưu hay không ?

    Trước hết theo quy định tại Điều 167 Bộ luật lao động 2012 về việc sử dụng người lao động cao tuổi (người lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu – đối với nam là 60 tuổi) thì:

“1. Khi có nhu cầu, người sử dụng lao động có thể thoả thuận với người lao động cao tuổi có đủ sức khỏe kéo dài thời hạn hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới theo quy định tại Chương III của Bộ luật này.

2. Khi đã nghỉ hưu, nếu làm việc theo hợp đồng lao động mới, thì ngoài quyền lợi đang hưởng theo chế độ hưu trí, người lao động cao tuổi vẫn được hưởng quyền lợi đã thoả thuận theo hợp đồng lao động.

3. Không được sử dụng người lao động cao tuổi làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ người lao động cao tuổi, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.

4. Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ của người lao động cao tuổi tại nơi làm việc.”

    Vậy pháp luật Việt Nam hiện hành có cho phép sử dụng người lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu trong trường hợp hai bên có nhu cầu và với những công việc được cho phép. Trong trường hợp hai bên tiếp tục làm việc với nhau thì phải ký hợp đồng mới hoặc gia hạn hợp đồng bằng phụ lục hợp đồng. Nếu đơn vị bạn và người lao động gia hạn hợp đồng thì cần lưu ý một số quy định về việc gia hạn hợp đồng lao động bằng phụ lục hợp đồng được nêu tại điều 5 Nghị định 25/2015/NĐ-CP như sau:

“Thời hạn hợp đồng lao động chỉ được sửa đổi một lần bằng phụ lục hợp đồng lao động và không được làm thay đổi loại hợp đồng đã giao kết, trừ trường hợp kéo dài thời hạn hợp đồng lao động với người lao động cao tuổi và người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách quy định tại Khoản 6 Điều 192 của Bộ luật Lao động.”

   Do người lao động này ký với đơn vị bạn hợp đồng lao động không xác định thời hạn trường hợp này người lao động và đơn vị bạn hoàn toàn có thể ký phụ lục hợp đồng để điều chỉnh một số nội dung sao cho phù hợp với đối tượng lao động là người lao động cao tuổi.  Đối với trường hợp hai bên muốn ký kết hợp đồng lao động mới thì phải chấm dứt hợp đồng lao động cũ. Tuy nhiên do người lao động chỉ đủ tuổi hưu nhưng chưa đủ năm đóng bảo hiểm nên việc chấm dứt hợp đồng lúc này sẽ trở thành đơn phương chấm dứt hợp đồng. Việc này sẽ gây khó khăn và không đảm bảo được quyền lợi của cả hai bên. Vì vậy đơn vị bạn và người lao động nên sử dụng phụ lục hợp đồng để thay đổi sao cho phù hợp với người lao động thay vì ký kết hợp đồng mới.

    Ngoài ra, trường hợp người lao động đủ tuổi hưu nhưng chưa đủ năm đóng bảo hiểm nếu có yêu cầu thì sẽ được hưởng bảo hiểm xã hội một lần với mức hưởng do chưa tham gia đủ số năm đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Khoản 2 Điều 60 Luật bảo hiểm xã hội 2014 như sau:

“Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm được tính như sau:

a) 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng trước năm 2014;

b) 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi;

c) Trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ một năm thì mức hưởng bảo hiểm xã hội bằng số tiền đã đóng, mức tối đa bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.”

.   Hoặc căn cứ vào quy định tại điều 8 khoản 2 Thông tư 01/2016/TT-BLĐTBXH:

“Riêng đối với người tham gia bảo hiểm xã hội đã đủ Điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu nhưng thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu không quá 10 năm (120 tháng), ngoài lựa chọn một trong các phương thức đóng quy định tại Khoản 1 Điều này còn được lựa chọn phương thức đóng một lần cho đủ 20 năm đóng để hưởng lương hưu.để được hưởng lương hưu.” 

    Ở trường hợp của đơn vị bạn, người lao động đó do đã đủ tuổi hưu nhưng chưa đủ năm đóng bảo hiểm – còn thiếu 21 tháng đóng bảo hiểm thì có thể đóng một lần cho 21 tháng đó để đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm và được hưởng lương hưu.

Đủ tuổi hưu nhưng chưa đủ năm đóng bảo hiểm

Đủ tuổi hưu nhưng chưa đủ năm đóng bảo hiểm

    2. Trường hợp người lao động đủ tuổi hưu nhưng chưa đủ năm đóng bảo hiểm mà có nhu cầu tiếp tục làm việc thì khi ký phụ lục hợp đồng phải tuân thủ quy định nào ?

   Những quy định buộc người sử dụng lao động và người lao động phải tuân thủ khi ký phụ lục hợp đồng để gia hạn hợp đồng lao động trong trường hợp người lao động cao đủ tuổi hưu nhưng chưa đủ năm đóng bảo hiểm được quy định tại điều 5 Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH bao gồm:

“1. Người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi quy định tại Điều 187 của Bộ luật lao động.

2. Khi tiếp tục lao động sau độ tuổi quy định tại Điều 187 của Bộ luật lao động, người lao động cao tuổi và người sử dụng lao động thỏa thuận sửa đi, bổ sung hợp đồng lao động cho phù hp với quy định của pháp luật về lao động đối với người lao động cao tuổi.

3. Hợp đồng lao động với người lao động cao tuổi phải bảo đảm các nội dung quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 166 và Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 Điều 167 của Bộ luật lao động.”

   Và tại Điều 166 khoản 2 và 3 Bộ luật lao động 2012:

“2. Người lao động cao tuổi được rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian.

3. Năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu, người lao động được rút ngắn thời giờ làm việc bình thường hoặc được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian.”

   Cũng như tại khoản 2,3,4 điều 167 Bộ luật này:

“2. Khi đã nghỉ hưu, nếu làm việc theo hợp đồng lao động mới, thì ngoài quyền lợi đang hưởng theo chế độ hưu trí, người lao động cao tuổi vẫn được hưởng quyền lợi đã thoả thuận theo hợp đồng lao động.

3. Không được sử dụng người lao động cao tuổi làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ người lao động cao tuổi, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.

4. Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ của người lao động cao tuổi tại nơi làm việc.”

   Ngoài ra, bạn có thể tham khảo một số bài viết sau:

   Luật Toàn Quốc hy vọng những gì chúng tôi tư vấn nêu trên sẽ giúp quý khách hàng lựa chọn được phương án tốt nhất để giải quyết vấn đề của mình, còn bất cứ vướng mắc gì quý khách vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật Lao Động miễn phí 24/7: 19006500 để gặp Luật sư tư vấn trực tiếp và yêu cầu cung cấp dịch vụ hoặc gửi  email: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi mong rằng sẽ nhận được sự ủng hộ và ý kiến đóng góp của mọi người dân trên cả nước để chúng tôi ngày càng trở lên chuyên nghiệp hơn.

  Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của quý khách!

   Trân trọng./.

Liên kết tham khảo: